Khởi nghiệp quốc gia

Khởi nghiệp quốc gia

Giáo dục khởi nghiệp trong đại học

ThS Bùi Tiến Dũng - Chuyên viên cao cấp - Vụ Học sinh, sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo • 26/09/2026 03:39

Giáo dục khởi nghiệp không nên bắt đầu bằng câu hỏi “cần dạy thêm bao nhiêu kiến thức kinh doanh”, mà bằng câu hỏi “người học cần có năng lực gì để chủ động kiến tạo sự nghiệp và tạo giá trị trong một môi trường nhiều biến động.

Du an KN DH Lac Hong
Dự án khởi nghiệp của sinh viên đã có phát triển rõ ràng khi đã đăng ký thành lập doanh nghiệp.

Giáo dục khởi nghiệp gắn với đổi mới sáng tạo trong đại học cần được nhìn như một bộ phận của quá trình phát triển con người và kiến tạo giá trị, không phải hoạt động bên lề hay chương trình chỉ dành cho người muốn mở doanh nghiệp. Mục tiêu cuối cùng không phải làm cho tất cả sinh viên trở thành doanh nhân, mà giúp mỗi người học chủ động kiến tạo sự nghiệp và tạo giá trị trong vị trí mình lựa chọn.

Hai tầng giáo dục khởi nghiệp

Ở tầng nền tảng, khởi nghiệp được tiếp cận theo nghĩa rộng và dành cho số đông sinh viên. Mục tiêu là phát triển tư duy tạo giá trị, tính chủ động, sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề, hợp tác và học từ phản hồi. Người học không bị đặt trước yêu cầu phải lập công ty hay tạo doanh thu; thay vào đó, họ được đặt vào các tình huống phải phát hiện vấn đề, tìm hiểu người dùng, hình thành giải pháp, thử nghiệm, nhận phản hồi và phản hồi về quá trình học.

Trong nghiên cứu giáo dục khởi nghiệp, Jamieson (1984) sớm phân biệt giáo dục về doanh nghiệp (education about enterprise), giáo dục cho doanh nghiệp (education for enterprise) và giáo dục trong doanh nghiệp (education in enterprise). Các nghiên cứu sau phát triển thành cách phân loại “about/for/through” - về, cho và thông qua khởi nghiệp (Kakouris & Liargovas, 2021). Hướng “thông qua” đặc biệt phù hợp với tầng nền tảng vì người học phát triển năng lực bằng chính quá trình hành động và tạo giá trị. Lackéus (2015) tiếp tục làm rõ hướng tiếp cận này khi nhấn mạnh việc để người học tạo ra giá trị cho người khác như một phương thức giáo dục.

Tầng chuyên sâu dành cho nhóm sinh viên có định hướng rõ hơn về phát triển dự án, khởi sự kinh doanh hoặc thương mại hóa. Ở tầng này, năng lực tạo giá trị được đặt trong những yêu cầu gần với thực tiễn thị trường hơn: kiểm chứng nhu cầu, xây dựng mô hình kinh doanh và tài chính, phát triển sản phẩm, sở hữu trí tuệ, pháp lý, vận hành, tiếp cận thị trường, huy động vốn và quản trị rủi ro. Dự án có thể phát triển thành startup (doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo), spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn), hoạt động thương mại hóa hoặc sáng kiến đổi mới trong tổ chức.

Mô hình hai tầng giải quyết đồng thời hai yêu cầu: phổ cập năng lực tạo giá trị cho số đông và tập trung nguồn lực chuyên sâu cho nhóm có tiềm năng. Nó cũng tránh hai cực đoan thường gặp: biến giáo dục khởi nghiệp thành một chương trình kinh doanh bắt buộc giống nhau cho mọi sinh viên, hoặc thu hẹp hoạt động khởi nghiệp vào một số đội thi và dự án ươm tạo.

Một số gợi ý triển khai

Một cơ sở giáo dục đại học không trở thành “đại học khởi nghiệp” chỉ nhờ có một trung tâm, cuộc thi hay một số khóa tập huấn. Năng lực khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo ở cấp cơ sở thể hiện ở khả năng kết nối đào tạo, nghiên cứu, sở hữu trí tuệ, ươm tạo, doanh nghiệp, thị trường và đầu tư thành một chu trình tạo giá trị. Vì vậy, các cơ sở giáo dục đại học cần lưu ý một số gợi ý sau:

Thứ nhất, chuyển từ tổ chức hoạt động sang thiết kế năng lực trong chương trình đào tạo. Cơ sở giáo dục đại học cần rà soát 07 trục năng lực với chuẩn đầu ra hiện có. Theo đó, 07 trục gồm: (1) nhận diện cơ hội và bối cảnh; (2) sáng tạo và ý tưởng tạo giá trị; (3) lập kế hoạch khởi nghiệp; (4) thử nghiệm và thích ứng; (5) huy động và tối ưu nguồn lực; (6) hợp tác, giao tiếp và quản trị; (7) đạo đức và trách nhiệm xã hội. Trên cơ sở đó, tổ chức hai tầng liên thông: học thông qua khởi nghiệp cho số đông và học để khởi nghiệp cho nhóm phát triển dự án, startup, spin-off, thương mại hóa hoặc đổi mới trong tổ chức.

Thứ hai, chuyển từ một học phần khởi nghiệp chung sang nhiều con đường học tập gắn với đặc thù ngành đào tạo; tăng học qua dự án, thực tập, nghiên cứu ứng dụng, dự án liên ngành, tiền ươm tạo và ươm tạo. Cùng với đó, cần xây dựng cơ chế đánh giá và công nhận kết quả dựa trên chuẩn đầu ra, minh chứng năng lực và phần việc thực sự của người học.

Thứ ba, phát triển đồng thời năng lực người dạy, công nghệ và hệ sinh thái. Người dạy cần được bồi dưỡng về thiết kế trải nghiệm, cố vấn, phản biện và đánh giá minh chứng; doanh nghiệp, chuyên gia, cựu sinh viên và nhà đầu tư tham gia như các chủ thể của môi trường học tập mở rộng. Công nghệ số, AI và công nghệ mới nổi được sử dụng để tăng cường năng lực người dạy và người học.

Thứ tư, chuyển đánh giá từ số lượng hoạt động sang sự phát triển năng lực và tác động. Bên cạnh sự kiện, cuộc thi, dự án hay doanh nghiệp được hình thành, cần theo dõi sự tiến bộ của sinh viên, chất lượng minh chứng, mức độ tương tác với người dùng và doanh nghiệp, khả năng tiếp tục phát triển dự án, kết quả chuyển giao, thương mại hóa và giá trị xã hội tạo ra.

ThS Bùi Tiến Dũng - Chuyên viên cao cấp - Vụ Học sinh, sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo