Phát triển công nghiệp sinh học và bảo đảm an ninh nguồn nước bền vững
Hải Phòng đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những dấu ấn trong chiến lược chuyển đổi mô hình tăng trưởng, gắn kết chặt chẽ giữa ứng dụng khoa học công nghệ cao và quản trị tài nguyên thiên nhiên.
Mới đây, UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch số 431/KH-UBND về phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2026 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045.
Song song với đó, dưới sự chủ trì của Chủ tịch UBND thành phố Đỗ Thành Trung, chính quyền địa phương cũng đang đẩy mạnh hợp tác chiến lược quốc tế nhằm giải quyết bài toán an ninh tài nguyên nước. Sự song hành của hai định hướng lớn này khẳng định quyết tâm của thành phố cảng trong việc kiến tạo một nền kinh tế xanh, tuần hoàn, hiện đại và phát triển bền vững.
.jpg)
Đổi mới mô hình tăng trưởng
UBND thành phố Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 431/KH-UBND (thay thế Kế hoạch số 279/KH-UBND ngày 23/10/2023) nhằm cụ thể hóa Quyết định số 1466/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tạo nền tảng đổi mới mô hình tăng trưởng nông nghiệp và bảo vệ môi trường dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn thành phố, phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố cảng để nâng cao năng suất, giá trị gia tăng, phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn, bền vững và xây dựng nông thôn mới.
Thành phố yêu cầu triển khai kế hoạch đồng bộ, trọng tâm, tránh dàn trải, ưu tiên ứng dụng và chuyển giao công nghệ có giá trị gia tăng lớn, phù hợp với lợi thế địa phương. Nguồn lực được huy động đa dạng, ưu tiên ngân sách nhà nước cho nghiên cứu, phát triển tiềm lực, đào tạo nhân lực và nhiệm vụ nền tảng, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân tham gia đầu tư, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Mục tiêu tổng quát là phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường làm nền tảng đổi mới mô hình tăng trưởng, từng bước làm chủ công nghệ lõi và chiến lược, hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp và sản phẩm có sức cạnh tranh cao để phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, bảo đảm tự chủ công nghệ, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.
Lộ trình thực hiện được chia thành các giai đoạn cụ thể. Giai đoạn 2026 - 2030 tập trung rà soát, xác định sản phẩm có tiềm năng thương mại hóa cao, ưu tiên ứng dụng công nghệ gen, tế bào, chọn giống chính xác, tăng cường bảo quản, chế biến sâu xuất khẩu, hỗ trợ hình thành doanh nghiệp, hợp tác xã ứng dụng công nghệ sinh học và đào tạo nâng cao năng lực.
Giai đoạn 2031 - 2035 tiếp tục làm chủ, chuyển giao công nghệ sinh học thế hệ mới, hình thành chuỗi nghiên cứu - sản xuất - kinh doanh có lợi thế cạnh tranh, phát triển nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái doanh nghiệp gắn với liên kết vùng. Tầm nhìn đến năm 2045, công nghiệp sinh học trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng hàng đầu trong nông nghiệp hiện đại, kinh tế xanh và tuần hoàn, hình thành các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh vững chắc trong nước và quốc tế.
Để hiện thực hóa các mục tiêu, kế hoạch xác định tập trung triển khai bảy nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm:
Nhiệm vụ đầu tiên là phát triển khoa học và công nghệ, tập trung ứng dụng và phát triển giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới cùng vắc-xin, chế phẩm sinh học và sinh phẩm nông nghiệp tiên tiến.
Nhiệm vụ thứ hai là xây dựng và phát triển tiềm lực công nghiệp sinh học, khai thác, hiện đại hóa cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thu hút đầu tư hình thành cơ sở nghiên cứu tại doanh nghiệp và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu.
Nhiệm vụ thứ ba là xây dựng và phát triển công nghiệp sinh học trong sản xuất kinh doanh, hỗ trợ hình thành doanh nghiệp, thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm và hoàn thiện chuỗi giá trị từ nghiên cứu đến kinh doanh.
Nhiệm vụ thứ tư là rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách, nghiên cứu cơ chế ưu đãi đầu tư vượt trội, thu hút nhân tài và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Nhiệm vụ thứ năm là mở rộng hợp tác quốc tế, kết nối, thu hút đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận công nghệ sinh học thế hệ mới có ý nghĩa thiết thực.
Nhiệm vụ thứ sáu là đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức, phổ biến kiến thức, thành tựu khoa học công nghệ mới và tổ chức hiệu quả các hoạt động khuyến nông, giới thiệu mô hình sản xuất hiệu quả.
Nhiệm vụ thứ bảy là giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành, địa phương tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả kế hoạch này.
Tầm nhìn chiến lược đến năm 2050
Song song với định hướng phát triển công nghiệp sinh học, Hải Phòng đặc biệt chú trọng bảo vệ môi trường và hạ tầng tài nguyên, yếu tố then chốt bảo đảm cho sự phát triển bền vững của thành phố cảng. Mới đây, Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng Đỗ Thành Trung đã chủ trì cuộc làm việc với Tổng Công ty Tài nguyên nước Hàn Quốc (K-Water) về giải pháp quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn.
.jpg)
Tại hội nghị, K-Water đã trình bày kết quả nghiên cứu toàn diện với tầm nhìn đến năm 2050, chỉ ra các thách thức cấp bách như khó lấy nước ngọt mùa khô, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước mặt, ngập úng đô thị, hạn chế cấp nước hải đảo và sự phân tán trong vận hành hệ thống.
Trên cơ sở đó, K-Water đề xuất năm chiến lược lớn cụ thể hóa thành 21 nhiệm vụ, gồm chín nhiệm vụ phi công trình và 12 nhiệm vụ công trình trọng điểm. Các giải pháp tập trung vào việc ứng phó lũ lụt, bảo đảm nguồn cấp nước ngọt ổn định, kiểm soát ô nhiễm, nâng cao năng lực tự chủ cấp nước hải đảo và tích hợp dữ liệu vào hệ thống số hóa thông minh. Lãnh đạo thành phố cùng các sở, ngành đã thảo luận sâu rộng về tính khả thi, sự phù hợp với quy hoạch, nguồn lực và lộ trình triển khai.
Phát biểu kết luận, Chủ tịch UBND thành phố Đỗ Thành Trung nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của công tác quản lý tài nguyên nước, đồng thời đồng tình với đề xuất ưu tiên xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Chủ tịch UBND thành phố đề nghị K-Water tiếp tục nghiên cứu các giải pháp đặc thù cho từng khu vực, xác định rõ nơi ưu tiên xử lý nước thải, phát triển cấp nước hoặc quản lý đô thị thông minh, đồng thời làm rõ quy mô, vị trí và phương án kết nối của các dự án đầu tư.
Cuối cùng, lãnh đạo thành phố yêu cầu phân công trách nhiệm cụ thể cho các sở, ngành và doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ với K-Water để hoàn thiện đề án, bảo đảm an ninh nguồn nước lâu dài cho sự phát triển bền vững của Hải Phòng.
Việc song hành triển khai Kế hoạch số 431/KH-UBND về phát triển công nghiệp sinh học và hợp tác chiến lược với K-Water trong quản lý tài nguyên nước thể hiện tầm nhìn toàn diện, hiện đại của thành phố Hải Phòng.

Bằng cách chủ động làm chủ các công nghệ sinh học thế hệ mới trong nông nghiệp và bảo vệ môi trường, kết hợp với giải pháp quản lý tài nguyên nước thông minh, tích hợp dữ liệu số hóa đến năm 2050, Hải Phòng đang từng bước giải quyết dứt điểm các thách thức ô nhiễm, xâm nhập mặn và an ninh nguồn nước.
Đây chính là nền tảng vững chắc giúp thành phố cảng thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số và khẳng định vị thế trung tâm phát triển xanh, hiện đại, bền vững của cả nước.
Minh Huệ - Hiền Ngân