Triển vọng tăng trưởng ở Việt Nam: Cơ hội đầu tư của doanh nghiệp Hàn Quốc
Việt Nam là điểm đến quan trọng đối với các nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt doanh nghiệp Hàn Quốc khi họ tiếp tục mở rộng kinh doanh và củng cố sự hiện diện trong khu vực.
Nhận diện triển vọng kinh doanh, cơ hội, xu hướng và “đọc” tín hiệu trên thị trường tài chính Việt Nam hỗ trợ nhà đầu tư nắm bắt các cơ hội mới hấp dẫn trên thị trường.
Cùng với những cơ hội mới, môi trường kinh doanh đang trở nên năng động hơn, đòi hỏi các công ty phải đáp ứng những thay đổi của thị trường, chuỗi cung ứng đang phát triển và sự phức tạp về thương mại ngày càng tăng.

Chia sẻ tại buổi gặp gỡ các Tập đoàn doanh nghiệp Hàn Quốc, sự kiện được tổ chức chung bởi FiinGroup, Allianz Trade và KODATA với chủ đề "Phát triển kinh doanh tại Việt Nam", ông Lê Xuân Đồng - Giám đốc điều hành, Trưởng bộ phận Dịch vụ Tư vấn và Nghiên cứu Thị trường FiinGroup cho biết, Việt Nam đang có quy mô nền kinh tế ngày càng lớn mạnh. Theo số liệu thống kê, hiện Việt Nam đang đứng sau Singapore, Indonesia và đã từng bước vượt qua Philippines. Trong những năm tới, ông Đồng cho rằng với mức tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ như hiện tại, Việt Nam có khả năng sẽ sớm vượt qua Thái Lan.
Bức tranh vĩ mô tích cực
9 tháng đầu 2026, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng GDP khoảng 9%. Động lực chính cho sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ này chủ yếu đến từ các khoản chi tiêu mạnh mẽ của chính phủ, tỷ lệ giải ngân cao của các dự án FDI và sự ổn định của tiêu dùng nội địa. “Chúng tôi tin rằng những động lực này sẽ tiếp tục phát triển trong những năm tới. Hiện Chính phủ đã đề ra các chỉ tiêu tăng trưởng rất tham vọng trong những năm tới, hướng đến việc đạt ít nhất 10% mỗi năm. Điều này có thể rất tham vọng và đồng thời cũng tạo ra một số thách thức cho nền kinh tế, chủ yếu đối với thị trường vốn và hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên đây cũng là động lực để nền kinh tế kiến tạo sức bật mạnh mẽ tới đây”, ông Đồng cho biết.
Phân tích chi tiết về bối cảnh kinh tế, theo ông Lê Xuân Đồng, Việt Nam cũng chịu tác động bởi xung đột Trung Đông, sự gia tăng đột biến của giá nhiên liệu, chi phí vận tải hoặc giao hàng, cũng như sự sụt giảm nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, nhờ vào việc ổn định giá nhiên liệu và tình hình được cải thiện, các hoạt động sản xuất tại Việt Nam ổn định. 2026 với các tháng đầu năm, Việt Nam có tình trạng thâm hụt thương mại gần 20 tỷ USD, xuất phát từ cả hai khía cạnh xuất khẩu và nhập khẩu. Ở khía cạnh xuất khẩu, đó là rào cản về thị trường, thuế quan, rào cản kỹ thuật và cả sự sụt giảm nhu cầu do những biến động trên thị trường toàn cầu. Ở khía cạnh nhập khẩu, giá trị nhập khẩu tăng không chỉ do khối lượng nhập khẩu mà chủ yếu do chi phí nhập khẩu, cụ thể là sự gia tăng của chi phí nhiên liệu, chi phí vận tải hoặc giao hàng. “Dù vậy, chúng tôi nhận thấy sự cải thiện đều đặn trong cán cân thâm hụt vào tháng 8 và tháng 9, với mức thặng dư thương mại dù còn khiêm tốn. Điều đó có nghĩa là tình hình đang được cải thiện dần qua từng tháng, và chúng tôi hy vọng rằng tình hình này sẽ tiếp tục được cải thiện ổn định trong những tháng còn lại của năm nay và đầu năm sau”, ông Đồng nói.
Tài khóa rộng dư địa, tiền tệ có thách thức
Về chính sách tài khóa, Việt Nam đang có thặng dư ngân sách dương, nhờ vào sự quản lý rất tốt về nguồn thu thuế cũng như tối ưu hóa các khoản chi tiêu của Chính phủ. Việc tái cơ cấu và tinh gọn bộ máy quản lý đang đi đúng hướng, góp phần cắt giảm chi phí hoặc giảm thiểu đáng kể chi phí vận hành, song song là việc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong hệ thống. Hiện Việt Nam có tỷ lệ nợ công/GDP ở mức rất thấp, chỉ khoảng 35%. Mức này thấp hơn nhiều so với mức trần hay ngưỡng khoảng 60% do Quốc hội đề ra. Điều này mang lại nhiều dư địa cho Chính phủ để gia tăng chi tiêu, đặc biệt là vào các siêu dự án cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế dài hạn, ông Lê Xuân Đồng phân tích.

Nhắc đến một loạt các siêu dự án cơ sở hạ tầng đáng chú ý mà Việt Nam đang phát triển hiện nay và trong những năm tới cho đến năm 2030 hoặc 2035, chuyên gia FiinGroup khẳng định, những cơ sở hạ tầng này sẽ tạo ra một hệ thống hạ tầng giao thông và logistics rất hiện đại nhằm hỗ trợ sự tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn.
Về chính sách tiền tệ, theo ông Lê Xuân Đồng, đang có một thách thức như lạm phát gia tăng, chủ yếu do lạm phát chi phí đẩy, tuy nhiên vẫn trong tầm kiểm soát. Năm 2026, FiinGroup dự báo tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam có thể đạt khoảng 4,5 hoặc gần 5%, trong mục tiêu đề ra.
Đối với dự trữ ngoại hối, hiện đang ở thấp nhất trong những năm gần đây, đạt gần 80 tỷ đô la Mỹ. Mức này tương đương với khoảng 1,8 tháng nhập khẩu, thấp hơn so với ngưỡng của IMF. Theo ngưỡng do IMF đặt ra, tỷ lệ này nên ở mức bằng 3 tháng nhập khẩu. “Sự sụt giảm trong dự trữ ngoại hối chủ yếu là do việc bán ra lượng lớn ngoại tệ nhằm bảo vệ, duy trì hoặc ổn định đồng Việt Nam vào cuối năm ngoái và đầu năm nay. Và cũng do tình trạng thâm hụt thương mại trong những tháng gần đây”, ông Đồng nói.
Tuy nhiên trong những tháng gần đây, ông cho biết đã nhận thấy nguồn cung USD trên thị trường tốt hơn, chủ yếu nhờ vào tỷ lệ giải ngân cao của các dự án FDI và kiều hối. Và cũng nhờ việc các ngân hàng trong nước thực hiện các khoản vay nợ nước ngoài. Vì vậy, nguồn cung đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng đã được cải thiện trong năm gần đây. Do đó, chuyên gia khẳng định, có thể nói rằng ngân hàng trung ương của Việt Nam có khả năng duy trì sự ổn định của đồng Việt Nam ngay trong bối cảnh thị trường vốn đang có nhiều biến động và đồng USD mạnh lên trên thị trường toàn cầu.
Về lĩnh vực ngân hàng, ông Lê Xuân Đồng đề cập về thanh khoản của các TCTD, với mức tăng trưởng tín dụng rất cao trong năm gần đây, vào khoảng 15 - 16% mỗi năm. Bên cạnh đó, tỷ lệ tín dụng trên GDP tại Việt Nam đã đạt khoảng 145% vào 2025. Theo đó, ông cho rằng nếu tiếp tục duy trì mức tăng trưởng danh mục cho vay ở mức 15 - 16% mỗi năm như thế này, tỷ lệ tín dụng trên GDP có thể đạt con số cao hơn vào năm 2030. Chính vì vậy những cải cách và các chính sách ưu đãi để khuyến khích sự phát triển của thị trường vốn là cần thiết. Trong khi đó, các ngân hàng cũng được khuyến khích quay trở lại với vai trò truyền thống của mình là cung cấp các khoản vay ngắn hạn cho nền kinh tế, còn vốn trung và dài hạn sẽ được hướng đến huy động từ kênh trái phiếu, cổ phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
Với sự lệch pha cấu trúc cân đối với của hệ thống ngân hàng hiện nay, khi NHNN vừa ban hành những chính sách hỗ trợ mới, chuyên gia FiinGroup vẫn nhấn mạnh rằng, giải pháp dài hạn cho hệ thống ngân hàng và thị trường vốn tại Việt Nam là phải phát triển các thị trường vốn để cung cấp nguồn vốn dài hạn cho các dự án, thay vì dựa vào hệ thống ngân hàng truyền thống.
Theo ông Lê Xuân Đồng, Việt Nam vẫn đang có nhu cầu vốn dài hạn rất cao để phục vụ cho yêu cầu đầu tư, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao. Ước tính, để đạt được mức tăng trưởng kinh tế 10% mỗi năm, theo mô hình của FiinGroup, Việt Nam cần bù đắp nhu cầu vốn từ 20 - 30 tỷ USD. Kỳ vọng nguồn lực từ M&A, nguồn vốn FDI giải ngân từ các nhà đầu tư nước ngoài theo đó cũng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc mang lại nguồn vốn dài hạn nhằm hỗ trợ cho sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong dài hạn.
Triển vọng và cơ hội từ sự dịch chuyển của dòng vốn
Kinh tế Việt Nam được kỳ vọng duy trì đà tăng trưởng bền vững. Để giải quyết thách thức về nguồn vốn dài hạn, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang thúc đẩy tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, phát triển thị trường vốn và định hình các Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) tại TP.HCM và Đà Nẵng, chuyên gia cho biết.
Theo ông Lê Xuân Đồng, thời gian tới, dòng vốn FDI và M&A sẽ chuyển dịch sâu sắc hơn vào các dự án công nghệ cao (chất bán dẫn, trung tâm dữ liệu) và kinh tế xanh. Đây là hệ quả tất yếu khi Chính phủ đang đẩy mạnh các chính sách ưu đãi cho hai lĩnh vực này, đồng thời siết chặt quy định đối với các ngành thâm dụng lao động hoặc có rủi ro ô nhiễm môi trường.
Theo chuyên gia, các dịch vụ phân tích dữ liệu và tư vấn chuyên sâu giúp nhà đầu tư nước ngoài tìm hiểu và đánh giá cơ hội tại thị trường Việt Nam. Trong đó, FiinGroup (với 34% cổ phần sở hữu bởi Nikkei và QUICK - Nhật Bản) cung cấp các phân tích chuyên sâu dựa trên dữ liệu hỗ trợ đánh giá thị trường, đối tác và cơ hội đầu tư tại Việt Nam thông qua Nền tảng Thông tin và Phân tích Kinh doanh FiinGate cùng các dịch vụ nghiên cứu thị trường và tư vấn. Bên cạnh việc cung cấp báo cáo tín dụng và nghiên cứu thị trường, đơn vị tư vấn cũng trực tiếp tham gia hỗ trợ các thương vụ M&A thông qua dịch vụ thẩm định thương mại, tài chính, định giá doanh nghiệp và nộp hồ sơ sáp nhập theo luật cạnh tranh, bao quát 40-50 lĩnh vực trọng điểm chiếm 70-80% GDP quốc gia.
Lê Mỹ