Cơ chế để phát triển đồng bộ ngân hàng - trái phiếu và cổ phiếu
Để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế trong 5 năm tới ước tính lên tới 1.500 tỷ USD, sự phát triển đồng bộ 3 trụ cột ngân hàng - trái phiếu - cổ phiếu được xem là điều kiện tiên quyết.
Điểm nghẽn" tín dụng và áp lực của hệ thống ngân hàng
Hệ sinh thái tài chính đang đứng trước những cơ hội và thách thức mang tính bước ngoặt. Câu hỏi lớn được đặt ra là liệu nguồn lực trong nước có đủ sức đáp ứng nhu cầu vốn khổng lồ này hay không?
Đánh giá về thực trạng hiện tại, thảo luận bàn tròn tại phiên chuyên đề của Diễn đàn An ninh tài chính số Việt Nam 2026, ông Nguyễn Hữu Hiệu - Tổng Giám đốc FiinGroup cho rằng, hệ thống ngân hàng đang có dấu hiệu quá tải. Tỷ lệ tín dụng trên GDP đã vượt 140%, một mức mà Ngân hàng Thế giới (WB) từng lên tiếng cảnh báo.

Ông Hiệu phân tích: "Hệ thống tài chính của chúng ta hiện nay dựa quá nhiều vào ngân hàng (Bank-centric system) nên tiềm ẩn nhiều rủi ro. Lãi suất ngân hàng neo cao thời gian qua đã ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính trong nước." Đặc biệt, ông Hiệu chỉ ra hiện tượng "chèn ép đầu tư" (Crowding Out) khi dòng vốn chủ yếu chảy vào khu vực đầu tư công, khiến khu vực tư nhân - đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) chiếm 98% số lượng doanh nghiệp - rơi vào tình trạng "vòng kẹp kép" (double squeeze), rất khó tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng cũng như phát hành trái phiếu. Theo đó, Tổng Giám đốc FiinGroup khẳng định nguồn vốn trong nước thời gian tới sẽ khó đáp ứng nhu cầu và Việt Nam bắt buộc phải tìm kiếm kênh dẫn vốn mới.
Từ góc nhìn đa chiều hơn, ông Quản Trọng Thành - Giám đốc Khối Phân tích, Chứng khoán Maybank (MSVN), cho rằng cần cẩn trọng khi đánh giá các chỉ số giới hạn của ngân hàng. Ông Thành đồng ý rằng tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của ngân hàng Việt Nam hiện còn thấp và cần cải thiện thông qua tăng lợi nhuận giữ lại hoặc phát hành cổ phần; Nhưng với tỷ lệ LDR (tín dụng/huy động) hay tín dụng/GDP, ông cho rằng con số hiện tại chưa phản ánh hết thực tế.
Ông Thành tính toán, để đạt mục tiêu huy động 10 triệu tỷ đồng (380 tỷ USD) của thị trường vốn trong 5 năm tới, hệ thống ngân hàng và thị trường vốn phải cùng chia sẻ gánh nặng. Đặc biệt, khoản chênh lệch 3-5% giữa tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm/GDP đòi hỏi Việt Nam phải huy động tối thiểu 50 - 100 tỷ USD vốn nước ngoài.
Tiếp cận dòng vốn ngoại, cơ chế nào?
Đồng thuận về việc phải tiếp cận dòng vốn ngoại, các chuyên gia đã đề xuất nhiều cơ chế đột phá.
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP HCM (VIFC-HCMC) cho biết, dựa trên Nghị quyết mới về phát triển đô thị, HĐND và UBND TP HCM đã được phép phát hành trái phiếu quốc tế chính quyền địa phương bằng ngoại tệ.
"Sắp tới, chúng tôi sẽ triển khai các đợt phát hành trái phiếu quốc tế chính quyền địa phương đầu tiên của Việt Nam bằng ngoại tệ cho các dự án hạ tầng trọng điểm. Mục tiêu cốt lõi của VIFC là trở thành kênh dẫn vốn cho nền kinh tế thực, dòng tiền thật, tài sản thật, tuyệt đối không tạo ra các "sòng casino" giao dịch ảo. PGS. TS. Nguyễn Hữu Hân nhấn mạnh, sau chính quyền, VIFC -HCMC cũng sẽ xây dựng kênh phát hành cho doanh nghiệp với các cơ chế kiểm soát ngoại hối linh hoạt.
Mở rộng vấn đề này, ông Nguyễn Hữu Hiệu kiến nghị không chỉ TPHCM hay Đà Nẵng, mà cả 34 tỉnh thành sau khi thu gọn cũng cần được phép phát hành trái phiếu quốc tế để làm hạ tầng. Tuy nhiên, ông Hiệu cảnh báo thế giới không thiếu tiền, nhưng để họ chọn Việt Nam thì sản phẩm phải đạt chuẩn: "Có Xếp hạng tín nhiệm quốc tế, có kiểm toán Big 4, sử dụng chuẩn mực kế toán IFRS. Ngoài ra, cần sự tham gia của các tổ chức Tăng cường tín nhiệm (Credit Enhancement) và Bảo lãnh (Guarantee)."
Đứng ở góc độ chi phí huy động vốn ngoại, ông Quản Trọng Thành đề xuất với các dự án hạ tầng siêu lớn và dài hạn, Nhà nước phải đóng vai trò dẫn dắt. Nhà nước là đơn vị huy động vốn với lãi suất rẻ nhất (trái phiếu Chính phủ hiện tại lãi suất chỉ khoảng 4%/năm). Chính phủ đứng ra huy động vốn và thực hiện cơ chế tái cấp vốn cho các dự án chiến lược.

Khơi thông dòng vốn cho SMEs
Giải quyết bài toán 22 tỷ USD thiếu hụt tài chính của khối SMEs (theo tính toán của WB), PGS. TS. Nguyễn Hữu Hân cho biết, VIFC đang nghiên cứu các mô hình Sandbox cho vay hiện đại: "Cho vay dựa trên dòng tiền của doanh nghiệp (Cash-flow financing) thông qua dữ liệu giao dịch trên các sàn thương mại điện tử, không cần tài sản thế chấp hay xếp hạng tín nhiệm truyền thống. Xu hướng này trên thế giới có tỷ lệ nợ xấu dưới 1%."
Đại diện FiinGroup thẳng thắn chỉ ra mức độ minh bạch của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện còn nhiều vấn đề, báo cáo tài chính thường bị trễ. Từ thực trạng này, ông đề xuất sử dụng dữ liệu thời gian thực (Real-time data): "Hiện nay chúng ta đã có 100% hóa đơn điện tử. Nếu có thể chế cho phép sử dụng dữ liệu hóa đơn điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia để chấm điểm tín dụng độc lập, cán bộ ngân hàng sẽ tự tin ký duyệt cho vay tín chấp, giải tỏa nguồn vốn khổng lồ cho SMEs.", theo ông Nguyễn Hữu Hiệu.
Đối với các dự án hạ tầng khổng lồ kéo dài 10-30 năm, ông Hiệu cảnh báo việc ngân hàng ôm khoản vay từ đầu đến cuối trên bảng cân đối kế toán là rủi ro rất lớn. Giải pháp ông đưa ra là cơ chế tái tài trợ (Refinancing): "Ngân hàng tài trợ giai đoạn xây dựng ban đầu. Khi dự án đi vào vận hành, có dòng tiền (Brownfield), ngân hàng sẽ đóng gói khoản vay và tái tài trợ qua phát hành trái phiếu dự án (Project Bonds) trên thị trường vốn. Điều này vừa giải phóng bảng cân đối ngân hàng, vừa gia tăng vai trò của thị trường vốn."
Niềm tin và Xếp hạng tín nhiệm quốc gia
Yếu tố được các chuyên gia nhắc đến nhiều nhất như một "chiếc chìa khóa vạn năng" để giảm chi phí vốn và mở khóa dòng tiền tỷ USD chính là việc nâng hạng Tín nhiệm quốc gia (Sovereign Credit Rating).
Ông Quản Trọng Thành phân tích, về chi phí vốn quốc tế, hiện tại doanh nghiệp và ngân hàng Việt Nam đi vay nước ngoài với lãi suất 6 - 8%, cộng chi phí Swap lên đến 8 - 9%. Nếu Việt Nam được Nâng hạng Tín nhiệm Quốc gia thêm 1 bậc lên mức Đầu tư (Investment Grade) như Philippines họ huy động vốn quốc tế với lãi suất chỉ 4,5 - 5%, chi phí vốn của chúng ta sẽ giảm xuống chỉ còn 5 - 6%. Khi nguồn vốn ngoại giá rẻ chảy vào, nó sẽ tự động hạ nhiệt và ổn định mặt bằng lãi suất trong nước.
Để thu hút được dòng vốn giá rẻ, ông Thành đề xuất, Chính phủ sớm thành lập một ban chuyên trách nâng hạng tín nhiệm Quốc gia. Ban này đóng vai trò như bộ phận quan hệ nhà đầu tư (IR) của Quốc gia, làm việc trực tiếp với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm (S&P, Moody's, Fitch) và các định chế quốc tế để cung cấp thông tin minh bạch, chính xác, giải tỏa tình trạng nhiễu loạn thông tin về Việt Nam.
Đồng tình với quan điểm này, PGS, TS. Nguyễn Hữu Huân cho rằng, việc nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia cần sự vào cuộc của toàn bộ bộ máy nhà nước và doanh nghiệp để xây dựng niềm tin và hệ thống tài chính minh bạch. Khi xếp hạng quốc gia tăng, trần xếp hạng của doanh nghiệp cũng tăng theo, giúp doanh nghiệp huy động vốn quốc tế với chi phí rẻ hơn rất nhiều qua cửa ngõ VIFC.
Ông Nguyễn Hữu Hiệu nhấn mạnh, "Xây dựng hạ tầng niềm tin - Sự hấp dẫn có thể thu hút dòng vốn đến Việt Nam, nhưng chỉ có niềm tin mới giữ dòng vốn ở lại."
Hành trình huy động 1.500 tỷ USD như vậy, không chỉ là bài toán về các con số học cơ học, mà là hành trình của sự chuyển đổi thể chế sâu sắc, kết nối thị trường bao gồm từ thị trường vốn, thị trường vốn nợ đến tiền tệ tín dụng, đi cùng là minh bạch dữ liệu và xây dựng chuẩn mực quốc tế vững chắc.
Lê Mỹ