Tín dụng - Ngân hàng

Rủi ro nào từ nới tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn?

Lê Mỹ 10/07/2026 04:00

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã nâng giới hạn tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40%, đồng thời miễn trừ một số khoản cho vay dự án hạ tầng trọng điểm khỏi giới hạn tăng trưởng tín dụng.

Quyết định tại Thông tư 25/2026 ban hành ngày 22/6 và có hiệu lực từ 1/7/2026 được cho có ý nghĩa vừa hỗ trợ các ngân hàng về mặt thanh khoản, vừa thêm dư địa cho các ngân hàng mở rộng dư nợ cho vay.

Gia tăng rủi ro đối với hồ sơ tín nhiệm

Chuyên gia của VIS Rating, ông Phan Duy Hưng, CFA, MBA, Giám đốc cấp cao - Ban định chế tài chính, cùng các cộng sự phân tích đánh giá rằng, việc nâng trần SMLR sẽ làm gia tăng rủi ro đối với hồ sơ tín nhiệm của các ngân hàng, khiến các ngân hàng phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn thị trường ngắn hạn vốn kém ổn định và nhạy cảm với niềm tin thị trường để tài trợ cho các khoản cho vay dài hạn, từ đó làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn và rủi ro tái cấp vốn.

Theo chuyên gia, một số ngân hàng tăng trưởng nhanh đang tiệm cận trần SMLR. Việc nới trần có thể gia tăng rủi ro thanh khoản. (Ảnh minh họa: Quốc Tuấn)
Theo chuyên gia, một số ngân hàng tăng trưởng nhanh đang tiệm cận trần SMLR. Việc nới trần có thể gia tăng rủi ro thanh khoản. (Ảnh minh họa: Quốc Tuấn)

Theo chuyên gia, việc nới trần diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng tiền gửi toàn ngành còn thấp, trong khi tín dụng ngân hàng vẫn là kênh chính để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, qua đó làm gia tăng rủi ro thanh khoản của hệ thống.

Các ngân hàng đang tiệm cận ngưỡng giới hạn 30% trước đây (như MBB, OCB, VPB, BVB và VIB) đối mặt với rủi ro cao hơn nếu tiếp tục đẩy mạnh cho vay trung và dài hạn, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản. Trong trường hợp thanh khoản thị trường thắt chặt, các ngân hàng này có thể đối mặt với áp lực cạnh tranh huy động tiền gửi và chi phí vốn gia tăng, tương tự giai đoạn căng thẳng thanh khoản năm 2022.

Ngoài ra, việc miễn trừ một số khoản cấp tín dụng cho các dự án hạ tầng trọng điểm khỏi giới hạn tăng trưởng tín dụng bao gồm khoảng 752 nghìn tỷ đồng cho các dự án triển khai trong giai đoạn 2026-2033, như sân bay và đường sắt có thể khiến tăng trưởng tín dụng toàn ngành tăng thêm khoảng 1.2 điểm phần trăm mỗi năm trong 12-18 tháng tới, qua đó tiếp tục làm gia tăng nhu cầu huy động vốn của các ngân hàng.

"Những áp lực trong ngắn hạn này phản ánh những hạn chế mang tính cấu trúc trong nguồn vốn của hệ thống ngân hàng, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu xây dựng một khung quản trị thanh khoản vững chắc hơn", ông Phan Duy Hưng nhận định.

Áp lực chuẩn bị đáp ứng tiêu chuẩn theo dự thảo Thông tư

Đồng thời, nhóm phân tích cũng đề cập đến bối cảnh và động thái NHNN đã đề xuất các quy định thanh khoản chặt chẽ hơn vào tháng 5/2026 nhằm từng bước đưa hệ thống ngân hàng tiệm cận các chuẩn mực Basel III. Theo dự thảo, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) sẽ được thay thế bằng tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) với phạm vi bao quát rộng hơn.

Rui ro thanh khoan
Cạnh tranh huy động tiền gửi nhiều khả năng sẽ gia tăng khiến chi phí vốn duy trì ở mức cao và gây áp lực lên biên lãi ròng (NIM) trong ngắn hạn. (Nguồn: VIS Rating)

Đồng thời, các yêu cầu về tỷ lệ khả năng chi trả (LCR), tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) và tỷ lệ đòn bẩy (LEV) sẽ được triển khai theo lộ trình từ năm 2028. Theo các nhà phân tích từ VIS Rating, các yêu cầu thanh khoản nghiêm ngặt hơn sẽ khuyến khích các ngân hàng tăng tỷ trọng nguồn vốn ổn định từ tiền gửi khách hàng, giảm phụ thuộc vào nguồn vốn thị trường vốn nhạy cảm với niềm tin nhà đầu tư, đồng thời củng cố các bộ đệm thanh khoản, và nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc thanh khoản trong dài hạn.

Đáng chú ý, VIS Rating cho rằng các ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cho vay trung và dài hạn nhanh, tỷ trọng cho vay liên quan đến bất động sản ở mức cao (như VPB, OCB và VIB) hoặc phụ thuộc nhiều vào nguồn tiền gửi doanh nghiệp kém ổn định hơn (như MSB) sẽ đối mặt với khoảng thiếu hụt nguồn vốn ổn định lớn nhất.

Chi tiết dữ liệu minh chứng cho nhận định khi trong 11 ngân hàng được thống kê có các khoản cho vay và và tỷ lệ dư nợ liên quan bất động sản (bao gồm cho vay chủ đầu tư, xây dựng và cá nhân mua nhà) trên tổng cho vay gọi tên 1 số nhà băng dẫn tỷ lệ vượt trội (trên 50% - trên 75% có khoảng 3 ngân hàng, 4 ngân hàng có tỷ lệ từ 40%- dưới 50% và còn lại dưới 30%. Một số nhà băng có cả tỷ trọng cho vay dài hạn cao và tỷ trọng dư nợ bất động sản cao - đang đối mặt với rủi ro lệch kỳ hạn (maturity mismatch) rõ rệt nhất, do cho vay bất động sản thường có kỳ hạn dài trong khi nguồn vốn huy động phần lớn vẫn là ngắn hạn, tạo áp lực lên tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (SDH) và làm gia tăng khoảng thiếu hụt vốn ổn định ròng (NSFR gap) khi các quy định giám sát thắt chặt hơn.

Ngược lại, cũng theo VIS Rating, các ngân hàng sở hữu nền tảng tiền gửi cá nhân đa dạng và ổn định hơn (như HDB, ACB và LPB) cùng cơ cấu nguồn vốn dài hạn vững chắc (như MBB và TCB) có lợi thế hơn trong việc đáp ứng các tỷ lệ mới (nhóm có các khoản cho vay và và tỷ lệ dư nợ liên quan bất động sản dưới 30%). Mặc dù nhiều ngân hàng tư nhân đã bắt đầu xây dựng năng lực quản lý và giám sát LCR và NSFR trong những năm gần đây, hiện chỉ có TPB công bố các chỉ tiêu tuân thủ theo chuẩn Basel III, theo VIS Rating.

Trên thực tế, theo dõi của DĐDN cho thấy nhiều nhà băng cũng đã công bố về việc áp dụng bộ tiêu chuẩn tương đối đầy đủ Basel II. Ngoài TPBank, còn có ACB, LPBank, VIB, SeABank, HDBank, Nam A Bank, Vietcombank, BIDV và Agribank. Cơ bản, các ngân hàng này đang triển khai các mô hình vốn nội bộ, chuẩn hóa công bố thông tin theo Pillar 3 và từng bước hướng tới quản trị theo chuẩn quốc tế, đặt nền móng cho sự hiện diện dài hạn tại các thị trường tài chính quốc tế.

Ông Phan Duy Hưng và các cộng sự cho biết, việc áp dụng tỷ lệ CDR nghiêm ngặt hơn sẽ làm gia tăng áp lực huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp, từ đó tạo ra thêm áp lực ngoài dự kiến lên thanh khoản toàn ngành. Theo yêu cầu CDR chặt chẽ hơn, VIS Rating ước tính rằng phần lớn các ngân hàng sẽ không đáp ứng được ngưỡng tối đa 85%. Do đó, cạnh tranh huy động tiền gửi nhiều khả năng sẽ gia tăng, khiến chi phí vốn duy trì ở mức cao và gây áp lực lên biên lãi ròng (NIM) trong ngắn hạn.

Áp dụng theo phương pháp mới của VIS Rating cho 26 ngân hàng, đối chiếu với giới hạn 85% do cơ quan quản lý quy định, ước tính TCB có CDR cao vượt trội, cao hơn giới hạn khoảng 38 điểm phần trăm - mức chênh lệch lớn nhất toàn ngành; Các ngân hàng theo sau lần lượt với VPB, MBB, TPB, CTG - cả 5 ngân hàng đầu bảng đều vượt ngưỡng 85% với biên độ rất lớn (17-38 điểm phần trăm).

Nhóm vượt ngưỡng ở mức vừa phải gồm SHB, BID, VIB, OCB, SSB, và VCB. Từ LPB đến phần lớn các ngân hàng đã nằm dưới hoặc quanh ngưỡng 85%, bao gồm KLB, ACB, PGB, STB, BAB, NAB, MSB, và nhóm thấp nhất gồm EIB, NVB, VBB, BVB, ABB, VAB và thấp nhất toàn ngành là SGB.

"Nhìn chung, dù các cải cách của Ngân hàng Nhà nước sẽ giúp củng cố hồ sơ thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong dài hạn, việc đồng thời nới trần SMLR cùng với yêu cầu tuân thủ CDR chặt chẽ hơn có thể làm gia tăng rủi ro nguồn vốn và thanh khoản trong ngắn hạn, đặc biệt đối với các ngân hàng tăng trưởng nhanh và phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn thị trường hoặc các nguồn vốn kém ổn định", chuyên gia nhận định. Và điều này đồng nghĩa vai trò cơ quan thanh tra, giám sát của NHNN sẽ càng cần được nêu cao; cũng như các nhà băng sẽ phải không ngừng tự tăng cường kiểm soát rủi ro với các tiêu chuẩn đã được đề ra từ trước tại Thông tư 14 vào năm trước.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Rủi ro nào từ nới tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn?
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO