Từ định danh người bán đến kết nối dữ liệu dòng tiền, cơ chế quản lý mới đang thu hẹp những khoảng trống từng khiến doanh thu kinh doanh online khó kiểm soát.
Những vụ án trốn thuế với doanh thu hàng trăm tỷ đồng từ bán hàng trên mạng cho thấy một thực tế đáng chú ý: hoạt động kinh doanh có thể diễn ra công khai trên không gian số, nhưng doanh thu thực tế vẫn có thể nằm ngoài kê khai thuế trong thời gian dài.

Trường hợp Nguyễn Thị Thu Hường là một ví dụ. Trong hơn 5 năm kinh doanh hàng hiệu qua Facebook, Hường đạt doanh thu gần 835 tỷ đồng nhưng không đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và không kê khai doanh thu. Theo kết luận giám định, số thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân không thực hiện nghĩa vụ là hơn 12,5 tỷ đồng. Tháng 7/2026, TAND khu vực 2 - Hà Nội tuyên phạt Hường 3 tỷ đồng về tội trốn thuế.
Một vụ việc khác đang được cơ quan chức năng xử lý liên quan đến Bùi Xuân Huấn (Huấn Hoa Hồng), vợ và các đồng phạm. Theo thông tin cơ quan điều tra được công bố, hoạt động kinh doanh nước hoa qua livestream có tổng doanh thu hơn 300 tỷ đồng nhưng bị cáo buộc không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để doanh thu ngoài sổ sách kế toán, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước.
Điểm chung đáng chú ý ở những vụ việc này không chỉ nằm ở quy mô doanh thu. Hoạt động bán hàng diễn ra trên mạng xã hội, có nhân viên, phần mềm quản lý, tài khoản nhận tiền và hệ thống giao hàng, nhưng nghĩa vụ thuế vẫn có thể không được thực hiện đầy đủ.
Từ những vụ việc trên, một số chuyên gia pháp lý cho rằng, bài toán quản lý thuế đối với kinh doanh online không chỉ nằm ở việc xác định ai đang bán hàng, mà còn ở khả năng nhận diện đúng doanh thu và dòng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh.
Cách thức quản lý cũng đang thay đổi theo hướng đó. Từ ngày 1/7/2026, Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế có hiệu lực, tạo thêm cơ sở cho việc quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số.
Cùng thời điểm, Nghị định 248/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại điện tử cũng có hiệu lực, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ quản lý đối với hoạt động kinh doanh trên môi trường số.
Khi thông tin về người bán, giao dịch và dòng tiền từng bước được kết nối, những trường hợp có doanh thu lớn nhưng không kê khai hoặc kê khai không tương xứng sẽ dễ được nhận diện hơn.
Trao đổi với phóng viên, Luật sư Nguyễn Thanh Phong - Trưởng Chi nhánh Công ty Luật Sa Vĩ tại Hà Nội cho rằng, việc có thể đối chiếu dữ liệu từ nhiều nguồn sẽ hỗ trợ đáng kể cho công tác quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên môi trường số.

Theo Luật sư Phong, trước đây một cá nhân có thể bán hàng qua mạng xã hội, nhận tiền qua tài khoản cá nhân, không đăng ký kinh doanh hoặc không kê khai đầy đủ doanh thu. Nếu thông tin về người bán, đơn hàng, giao dịch thanh toán và dòng tiền không được kết nối, việc phát hiện phần doanh thu chưa kê khai sẽ gặp khó khăn.
“Khi thông tin về chủ thể, giao dịch và dòng tiền được đặt cạnh nhau để đối chiếu, khả năng nhận diện những trường hợp có doanh thu lớn nhưng kê khai không tương xứng sẽ cao hơn”, Luật sư Nguyễn Thanh Phong phân tích.
Tuy nhiên, theo Luật sư Phong, quản lý thuế dựa trên dữ liệu dòng tiền không đồng nghĩa với việc coi mọi khoản tiền chuyển vào tài khoản cá nhân là doanh thu kinh doanh.
Một tài khoản có thể phát sinh nhiều loại giao dịch khác nhau như chuyển tiền giữa các tài khoản của cùng một chủ sở hữu, vay mượn, hoàn trả, nhận tiền hộ hoặc các giao dịch dân sự khác. Vì vậy, dữ liệu giao dịch trước hết là cơ sở để phân tích, đối chiếu và nhận diện rủi ro; việc xác định nghĩa vụ thuế vẫn phải dựa trên bản chất khoản thu và hoạt động kinh doanh thực tế.
“Nếu chỉ nhìn tổng số tiền đi qua tài khoản để xác định doanh thu thì rất dễ dẫn đến sai lệch. Cần đối chiếu dòng tiền với đơn hàng, hóa đơn, thông tin người bán, hàng hóa và các dữ liệu liên quan để xác định đâu thực sự là doanh thu từ hoạt động kinh doanh”, Luật sư Phong lưu ý.
Theo Luật sư Nguyễn Thanh Phong, quản lý chặt hơn hoạt động kinh doanh online còn có ý nghĩa ở góc độ cạnh tranh. Doanh nghiệp, hộ kinh doanh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế phải tính khoản thuế này vào chi phí hoạt động. Nếu một chủ thể có doanh thu lớn nhưng không kê khai, không nộp thuế, không chỉ ngân sách bị thất thu mà sự công bằng giữa các chủ thể kinh doanh cũng bị ảnh hưởng.
Bởi vậy, cùng với kết nối dữ liệu, việc phân tích và nhận diện rủi ro cần đủ chính xác để tập trung vào những trường hợp có dấu hiệu bất thường, đồng thời tránh gây tâm lý rằng mọi giao dịch qua tài khoản cá nhân đều có thể bị coi là doanh thu chịu thuế.
“Quản lý thuế trên môi trường số phải bảo đảm hai yêu cầu: không để doanh thu kinh doanh lớn nằm ngoài nghĩa vụ thuế, nhưng cũng không đánh đồng mọi dòng tiền với doanh thu chịu thuế. Khi dữ liệu được kết nối và sử dụng đúng cách, những khoảng tối về doanh thu sẽ dần được thu hẹp, đồng thời bảo đảm công bằng cho những cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh nghiêm túc”, Luật sư Nguyễn Thanh Phong nhận định.