Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch VIFC-HCMC, trong giai đoạn mới, VIFC-HCMC cần trở thành một bộ điều phối phát triển, kết nối và điều hướng vốn quốc tế vào các ngành có giá trị gia tăng cao.
VIFC-HCMC cần trở thành một bộ điều phối phát triển, kết nối và điều hướng vốn quốc tế vào các ngành có giá trị gia tăng cao. Dòng vốn phải giúp Việt Nam làm chủ công nghệ, tạo bước nhảy về năng suất và xây dựng những doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh toàn cầu. Đó là đóng góp chúng ta hướng tới cho mục tiêu tăng trưởng cao dài hạn và một Việt Nam phát triển, giàu mạnh, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 (AEF 2026).
9 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 50,36 tỷ đô la Mỹ, còn vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ đô la Mỹ. Kết quả này cần được nhìn cùng với cơ cấu xuất khẩu và năng lực công nghệ trong nước.

Trước hết là mức độ phụ thuộc vào khu vực FDI trong xuất khẩu. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 434,30 tỷ đô la Mỹ của chín tháng năm 2026, khu vực FDI, kể cả dầu thô, đóng góp 350,41 tỷ đô la, tương đương 80,7%. Khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 19,3%. Nghĩa là cứ 100 đô la hàng hóa xuất khẩu, hơn 80 đô la do khu vực FDI thực hiện.
Từ cơ cấu này, có thể thấy nền kinh tế đang dựa nhiều vào khu vực FDI, đặc biệt rõ ở động lực xuất khẩu. Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước chưa tương xứng. Khi các tập đoàn quốc tế thay đổi đơn hàng, thị trường hoặc địa điểm sản xuất, tăng trưởng xuất khẩu và việc làm của chúng ta sẽ chịu tác động. Vì vậy, nâng năng lực doanh nghiệp Việt Nam là yêu cầu đối với sức chống chịu của nền kinh tế.
Với phần giá trị thực sự được tạo ra trong nước, theo OECD, năm 2020, giá trị gia tăng có nguồn gốc nước ngoài chiếm khoảng 48% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Hiểu đơn giản, trong 100 đô la xuất khẩu, khoảng 48 đô la là giá trị được tạo ra ở nước ngoài, khoảng 52 đô la được tạo ra tại Việt Nam, bao gồm cả đóng góp của doanh nghiệp FDI. Tỷ trọng giá trị nước ngoài này cao hơn tại Indonesia, Malaysia và Thái Lan.
Như vậy, kim ngạch xuất khẩu lớn chưa phản ánh đầy đủ năng lực làm chủ công nghệ và phần giá trị mà doanh nghiệp Việt Nam nắm giữ. Khi còn nhập nhiều linh kiện, nguyên liệu và thực hiện gia công, lắp ráp, khả năng tạo giá trị trong nước bị giới hạn. Chúng ta cần hiện diện sâu hơn ở khâu nghiên cứu, thiết kế, linh kiện cốt lõi, sở hữu trí tuệ và phát triển thương hiệu, ông Huân nói.
Điểm thứ ba là năng lực nghiên cứu và nhân lực. Báo cáo OECD năm 2026 cho biết, trong các dự án FDI đầu tư mới được công bố giai đoạn 2020–2024, hoạt động nghiên cứu và phát triển chỉ chiếm khoảng 1,9% tổng vốn đầu tư. Báo cáo Việt Nam 2045 của Ngân hàng Thế giới, công bố năm 2024, cũng cho thấy chỉ khoảng 5% lao động ngành chế biến, chế tạo thuộc nhóm kỹ năng cao.
Những dữ liệu này củng cố nhận định rằng mô hình xuất khẩu của Việt Nam còn nặng về gia công, lắp ráp, trong khi năng lực nghiên cứu và sáng tạo chưa phát triển tương xứng. Một nền kinh tế xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao cần tiếp tục nâng năng lực thiết kế và làm chủ công nghệ cốt lõi tại chỗ.
Chính vì vậy, chúng ta cần thu hút dòng vốn thế hệ mới gắn với nghiên cứu và phát triển, đào tạo kỹ sư, hợp tác công nghệ và nâng cấp nhà cung ứng Việt Nam. Dòng vốn ấy phải giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao, tạo lập tài sản trí tuệ và nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đó là yêu cầu đặt ra cho Thành phố Hồ Chí Minh và VIFC-HCMC.
Từ thực trạng vừa phân tích, ông Huân cho biết, VIFC-HCMC không chỉ là kênh dẫn vốn, mà cần trở thành bộ điều phối để dòng vốn góp phần thay đổi cơ cấu và năng lực của nền kinh tế.
Vai trò ấy bắt đầu từ việc chuyển các ưu tiên phát triển quốc gia thành danh mục dự án có khả năng thu hút đầu tư. Trung tâm cần phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, trường đại học và doanh nghiệp để xác định lĩnh vực tạo giá trị cao, nhận diện khoảng trống công nghệ và kết nối nhà đầu tư phù hợp.
Vốn cho nghiên cứu phải đi cùng chuyên gia và phòng thí nghiệm. Vốn thương mại hóa cần gắn với khách hàng và thị trường. Vốn cho sản xuất phải hỗ trợ hình thành chuỗi cung ứng tại Việt Nam. Điều phối tốt sẽ giúp các nguồn lực bổ trợ nhau và tạo năng lực mà từng dự án riêng lẻ khó hình thành.
Định hướng này phù hợp với Nghị quyết 57-NQ/TW, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò động lực chính của phát triển. VIFC-HCMC cần giúp kết nối định hướng ấy với nguồn lực và những dự án cụ thể, theo nguyên tắc thị trường và khuôn khổ pháp luật.
Nền tảng sản xuất hiện có phải được nâng cấp bằng tự động hóa và kỹ thuật tiên tiến. Khi doanh nghiệp Việt Nam tham gia thiết kế, sở hữu giải pháp và thương hiệu, vị thế đàm phán và phần giá trị được hưởng sẽ tăng lên. VIFC-HCMC cần ưu tiên kết nối nguồn vốn cho chính những bước nâng cấp này, gắn doanh nghiệp Việt Nam với đối tác công nghệ và khách hàng quốc tế.

Định hướng này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: chú trọng chất lượng dòng vốn, đổi mới sáng tạo và liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Các mục tiêu đến năm 2030, như tỷ lệ nội địa hóa từ 45 - 50% trong những ngành công nghiệp chủ lực, khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng và từ 500 đến 1.000 nhà cung ứng cấp một, cho thấy yêu cầu nâng cao năng lực nội địa...Đây là mục tiêu phấn đấu, cần được cụ thể hóa bằng chương trình và dự án.
Ở cấp triển khai, cần xác định ngành ưu tiên, doanh nghiệp có khả năng nâng cấp và đối tác cùng phát triển công nghệ. Chính sách thu hút đầu tư cần gắn với khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển thị trường vốn để nâng khả năng hấp thụ của nền kinh tế.
Các lĩnh vực ưu tiên gồm trí tuệ nhân tạo và hạ tầng số, bán dẫn, robot và tự động hóa, công nghệ sinh học, năng lượng sạch, vật liệu tiên tiến và tài chính số. Công nghệ lượng tử cần được chuẩn bị với tầm nhìn dài hạn.
Trong từng ngành, phải xác định khâu Việt Nam có khả năng tạo khác biệt: thiết kế chip, phát triển giải pháp AI, chế tạo linh kiện hoặc sở hữu công nghệ. Việc điều hướng vốn cần dựa trên nhu cầu thị trường, chất lượng đội ngũ và khả năng lan tỏa sang các doanh nghiệp trong nước. Mỗi dự án phải gắn với một bước tiến cụ thể về năng lực.
Các nấc thang có thể diễn ra song song ở những ngành và doanh nghiệp khác nhau. Thước đo tiến bộ là năng lực thiết kế, tài sản trí tuệ, sản phẩm thương mại hóa và vị trí trong chuỗi cung ứng. VIFC-HCMC cần kết nối nguồn vốn phù hợp với từng nấc thang, giúp doanh nghiệp có điều kiện tiến lên những khâu tạo giá trị cao hơn.
Lãnh đạo VIFC-HCMC khẳng định, bước nhảy về công nghệ cần một bước tiến tương ứng về con người. Theo ông, sự chuyển dịch từ lao động nông nghiệp, công nghiệp sang lao động tri thức và sáng tạo đòi hỏi nền tảng số, chuyên môn vững và cơ hội giải quyết các bài toán thực tế. Trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần cùng đào tạo, nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm.
VIFC-HCMC cần điều phối kết nối vốn với các chương trình phát triển nhân lực, thu hút chuyên gia và hợp tác đào tạo quốc tế. Mỗi dự án công nghệ phải góp phần hình thành đội ngũ tại chỗ có khả năng tiếp tục cải tiến, sáng tạo và làm chủ công nghệ, ông nhấn mạnh.
Kiến trúc thể hiện cách VIFC-HCMC có thể vận hành vai trò bộ điều phối. Trung tâm cần tổ chức sự gặp gỡ giữa vốn quốc tế, công nghệ, nhân lực và nhu cầu phát triển của Việt Nam theo từng chương trình ưu tiên.
Trước hết, xây dựng danh mục dự án theo các cụm ngành có giá trị gia tăng cao, với yêu cầu rõ về công nghệ, năng lực doanh nghiệp Việt Nam và hiệu quả kinh tế. Tiếp đó, kết nối nhà đầu tư chiến lược với quỹ mạo hiểm, vốn tăng trưởng và tài chính dài hạn, phù hợp từng giai đoạn dự án.
Đồng thời, phối hợp chuẩn bị nhân lực, hạ tầng nghiên cứu, đối tác công nghệ và khách hàng. Một dự án bán dẫn, chẳng hạn, cần được đặt trong chương trình kết nối đào tạo kỹ sư, thiết kế, kiểm thử và phát triển nhà cung ứng. Khi các mắt xích cùng tiến bộ, tác động có thể lan sang cả cụm ngành.
Cuối cùng, theo dõi kết quả bằng năng suất, công nghệ được làm chủ, sản phẩm được thương mại hóa và giá trị gia tăng trong nước. VIFC-HCMC điều phối thông qua chất lượng dự án, thông tin minh bạch và kết nối lợi ích, tôn trọng quyền quyết định của nhà đầu tư. Qua đó, vốn trở thành động lực tạo bước nhảy về năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Theo PGS,TS Nguyễn Hữu Huân, để duy trì tăng trưởng hai con số trên hành trình khoảng hai thập niên, chúng ta phải tạo những bước nhảy về năng suất và năng lực công nghệ. Tăng thêm vốn, lao động và công suất gia công theo cách tuần tự sẽ khó đáp ứng yêu cầu ấy. Cần các ngành công nghệ cao, doanh nghiệp sáng tạo và năng lực làm chủ những khâu có giá trị lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
VIFC-HCMC cần trở thành một thiết chế điều phối quan trọng của quá trình đó: đưa vốn đến nơi tạo ra năng lực mới, kết nối các nguồn lực để hình thành ngành công nghiệp mới, và giúp doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh. Khi được thực hiện đồng bộ với cải cách thể chế, phát triển nhân lực và giữ vững ổn định vĩ mô, đây sẽ là nền tảng để khát vọng tăng trưởng cao liên tục trở nên khả thi.