Mặc dù nhiều tổ chức tín dụng (TCTD) rất tích cực, chủ động tiếp cận và tham gia tài trợ vốn cho các đối tượng này, tuy nhiên quy mô cam kết và giải ngân thực tế còn khiêm tốn.
Đến ngày 30/6/2026, 13 tổ chức tín dụng đã tiếp cận và tham gia tài trợ 29 chương trình, dự án lớn, quan trọng của Hà Nội, với tổng số tiền cam kết cấp tín dụng trên 63.000 tỷ đồng. Dư nợ đạt gần 15.000 tỷ đồng, trong đó vốn trung và dài hạn chiếm trên 65%.
Mặc dù nhiều TCTD rất tích cực, chủ động tiếp cận và tham gia tài trợ vốn cho các đối tượng này, tuy nhiên quy mô cam kết và giải ngân thực tế còn khiêm tốn, bà Nguyễn Thị Hoà, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1, nêu tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính, ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026-2030” ngày 12/9.
Theo bà Nguyễn Thị Hòa, thực tiễn này xuất phát từ một số khó khăn.

Thứ nhất, tốc độ huy động vốn chưa bắt kịp đà tăng trưởng tín dụng. Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn của hệ thống các TCTD trên địa bàn tăng 10,78%, trong khi dư nợ tín dụng tăng 13,05%. Theo đó, tốc độ tăng dư nợ đang cao hơn tốc độ tăng huy động, tạo áp lực lên chi phí và cân đối nguồn vốn của các TCTD. Nếu không có sự chuẩn bị nguồn vốn từ sớm, áp lực này sẽ cộng hưởng với cao điểm giải ngân của các chương trình, dự án quan trọng trong giai đoạn 2027 – 2029, tạo thêm khó khăn cho các TCTD trong việc đáp ứng nhu cầu vốn của kinh tế Thủ đô.
Thứ hai, tiềm ẩn rủi ro về cấu trúc kỳ hạn do vốn huy động ngắn hạn nhưng dự án đầu tư dài hạn.
Sự chênh lệch giữa kỳ hạn nguồn vốn huy động và vòng đời 15-20 năm của các dự án hạ tầng quy mô lớn là rất lớn. Nhằm hỗ trợ khơi thông dòng vốn, tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn đã được điều chỉnh lên mức 40%; tuy nhiên, việc nới tỷ lệ mới chỉ mở thêm dư địa về mặt chính sách, còn về quản trị thực tế, sự chênh lệch về kỳ hạn vẫn đặt các TCTD trước áp lực quản trị rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, khiến các TCTD thận trọng khi giải ngân các khoản vay kỳ hạn dài nếu chưa cân đối được nguồn vốn tương ứng.
Thứ ba, về tính hoàn thiện pháp lý và cơ chế tài chính của dự án.
Pháp lý dự án là điều kiện tiên quyết để TCTD thẩm định và giải ngân. Tuy nhiên, thực tế nhiều dự án còn vướng mắc kéo dài về thủ tục đầu tư, quy hoạch, giao đất, giải phóng mặt bằng và xác định nghĩa vụ tài chính; khi hồ sơ pháp lý chưa hoàn chỉnh, TCTD dù đã sẵn sàng nguồn vốn cũng chưa thể giải ngân theo quy định. Bên cạnh đó, tiến độ bàn giao mặt bằng không liên tục cùng khó khăn về nguồn cung, biến động giá vật liệu xây dựng có thể làm thay đổi tiến độ, làm giảm tính khả thi của phương án tài chính đã tính toán ban đầu, trở thành rào cản lớn ngăn dòng vốn tín dụng tiếp cận dự án.
Để khơi thông nguồn lực tài chính phục vụ phát triển Thủ đô, Lãnh đạo NHNN Khu vực 1 cho rằng cần được triển khai đồng bộ theo bốn định hướng lớn. Một là, khơi thông đồng thời nguồn lực Nhà nước – TCTD – DN thông qua : Hoàn thiện hành lang pháp lý và cụ thể hóa các giải pháp hỗ trợ của Nhà nước với các dự án trọng điểm; Cải thiện khả năng tiếp cận vốn, đa dạng hóa sản phẩm tín dụng; Nâng cao năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp, dự án.
Hai là, đổi mới phương thức đánh giá tín dụng theo hướng thẩm định trên cơ sở dòng tiền và hiệu quả phương án, từng bước giảm phụ thuộc vào tài sản bảo đảm; gắn với tăng cường kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu để giảm bất cân xứng thông tin; đơn giản hóa điều kiện, thủ tục, đa dạng hóa sản phẩm tín dụng phù hợp với từng nhóm khách hàng.
Ba là, đa dạng hóa nguồn vốn trung, dài hạn ngoài kênh tín dụng ngân hàng, phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công, PPP và các công cụ tài chính của Thành phố; đồng thời nâng cao khả năng tham gia của hệ thống ngân hàng thông qua hợp vốn, đồng tài trợ và tài trợ theo chuỗi.
Bốn là, xây dựng lộ trình huy động và cung ứng vốn gắn với tiến độ dự án; tăng cường phối hợp liên ngành, giám sát và quản trị rủi ro trong toàn bộ quá trình huy động, phân bổ và sử dụng vốn.
Trên cơ sở đó, Phó Giám đốc NHNN Khu vực 1 kiến nghị UBND TP Hà Nội phát huy hiệu quả các cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 258/2025/QH15, Luật Thủ đô và các quy định có liên quan để đẩy nhanh mức độ sẵn sàng của dự án; tập trung tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng và các điều kiện pháp lý khác, qua đó tạo cơ sở để các TCTD thẩm định và giải ngân vốn theo tiến độ.
Xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin về danh mục các chương trình, dự án lớn, quan trọng của Thành phố, tiến độ triển khai, nhu cầu vốn theo từng giai đoạn, cơ cấu nguồn vốn, phương án tài chính và khả năng hoàn vốn; đồng thời phân loại dự án theo khả năng tạo dòng tiền để xác định cơ cấu nguồn vốn phù hợp.
Phát huy hiệu quả các công cụ tài chính và nguồn lực của Thành phố; đa dạng hóa các hình thức huy động vốn như trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu dự án, trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị, trái phiếu xanh; nghiên cứu kỳ hạn, lãi suất và phương thức phát hành phù hợp để nâng cao tính hấp dẫn, thu hút nhà đầu tư tổ chức và nguồn vốn dài hạn. Đồng thời, khai thác hiệu quả nguồn lực từ đất, tín chỉ các-bon, kết dư ngân sách, các quỹ tài chính; tăng cường huy động ODA, vốn vay ưu đãi, PPP và các nguồn vốn hợp pháp khác cho đầu tư phát triển.
Cùng với đó, xem xét, có phương án chia sẻ phù hợp để ngành ngân hàng tiếp cận đầy đủ thông tin liên quan đến các dự án trọng điểm nói riêng và các chương trình, dự án khác nói chung, làm cơ sở cho việc xem xét, cấp tín dụng.
Về phía NHNN, tiếp tục duy trì các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả; Hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; Tích cực triển khai các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Chương trình mục tiêu quốc gia.
Nghiên cứu, ban hành hướng dẫn triển khai quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 258/2025/QH15 của Quốc hội để hiện thực hóa các cơ chế đặc thù về huy động nguồn lực cho các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thành phố; đồng thời bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cấp tín dụng, yêu cầu quản trị rủi ro, an toàn hoạt động ngân hàng và phù hợp với định hướng điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
Đáng chú ý, bà Hòa cũng kiến nghị cơ quan quản lý về vấn đề tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền trong xây dựng cơ sở dữ liệu DNNVV trong Hệ thống thông tin doanh nghiệp quốc gia để tạo nguồn dữ liệu đáng tin cậy về hoạt động của DNNVV (tình hình hoạt động, doanh thu, lợi nhuận, dòng tiền, thuế, bảo hiểm, hải quan,…) làm cơ sở để các tổ chức tín dụng đánh giá khả năng trả nợ và mở rộng cho vay dựa trên dòng tiền.
Nghiên cứu hình thức bảo lãnh của Chính phủ cho các dự án đầu tư lớn, quan trọng trong phạm vi phù hợp với khung khổ quản lý an toàn nợ công, nợ nước ngoài quốc gia;
Đẩy mạnh phát triển thị trường vốn trong nước. Đa dạng hóa nguồn lực đầu tư đối với các dự án lớn, công trình trọng điểm quốc gia, trong đó chú trọng huy động các nguồn vốn có tính chất dài hạn như vốn trái phiếu Chính phủ, vay nước ngoài, ODA.
Đối với doanh nghiệp, chủ đầu tư, bà Hòa đề xuất cần nâng cao năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp và chất lượng phương án sản xuất, kinh doanh; chủ động tăng vốn chủ sở hữu, quản trị dòng tiền và xây dựng phương án trả nợ phù hợp.
Bên cạnh đó, nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, chuẩn hóa báo cáo, dữ liệu hoạt động và dòng tiền; tăng cường giao dịch qua hệ thống ngân hàng để tạo cơ sở cho TCTD đánh giá đầy đủ hơn khả năng trả nợ, qua đó giảm bất cân xứng thông tin.
Đối với các dự án đầu tư, theo bà Hòa, cần chủ động hoàn thiện hồ sơ pháp lý, phương án tài chính, kế hoạch vốn và tiến độ triển khai; phối hợp với TCTD ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án để nâng cao khả năng huy động và giải ngân vốn; đa dạng hóa nguồn lực tài chính, kết hợp vốn chủ sở hữu, vốn đối tác, quỹ đầu tư, thị trường vốn và tín dụng ngân hàng, hạn chế phụ thuộc vào một kênh vốn duy nhất.