Công nghệ

TP HCM đổi mới cách thức đầu tư khoa học công nghệ

Quân Bảo 07/08/2026 06:34

TP HCM tập trung dòng vốn ngân sách vào các sản phẩm khoa học công nghệ có khả năng thương mại hóa và ứng dụng thực tế.

Nhiều năm qua, không ít đề tài khoa học sau khi nghiệm thu chỉ dừng lại ở các báo cáo tổng kết thay vì được đưa vào sản xuất và đời sống. Theo số liệu từ đại diện Sở Khoa học và Công nghệ TP HCM (Sở KHCN TP HCM) tại hội nghị “Triển khai Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026–2030”, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng kết quả nghiên cứu từ các viện, trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của TP HCM ở nhiệm kỳ trước chưa đạt 5%. Con số này cho thấy khoảng cách lớn giữa hoạt động nghiên cứu và nhu cầu của thị trường, đồng thời phản ánh cơ chế đầu tư trước đây vẫn thiên về hỗ trợ quá trình thực hiện đề tài hơn là tạo ra những sản phẩm có khả năng ứng dụng và thương mại hóa.

695ee859-9bf1-4127-b245-f58b0bd6b3b2.jpg
PGS TS Lê Văn Thăng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP HCM

Trước thực trạng đó, TP HCM đang chuyển hướng đầu tư khoa học công nghệ, từ hỗ trợ các đề tài nghiên cứu riêng lẻ sang ưu tiên phát triển các sản phẩm có khả năng ứng dụng và thương mại hóa. Theo PGS TS Lê Văn Thăng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP HCM, sự thay đổi bắt đầu từ việc chuyển tư duy quản lý từ "cấp phát kinh phí" sang "đầu tư", lấy sản phẩm đầu cuối và hiệu quả ứng dụng thực tiễn làm thước đo của một nhiệm vụ khoa học. Theo cách tiếp cận này, một nhiệm vụ chỉ thực sự hoàn thành khi kết quả nghiên cứu được đưa vào ứng dụng ngoài xã hội, thay vì dừng lại ở khâu nghiệm thu. Định hướng này cũng phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 57, trong đó nhấn mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu nhằm tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Cùng với việc thay đổi tư duy đầu tư, TP HCM cũng thay đổi cách tổ chức các nhiệm vụ khoa học công nghệ. Thay vì triển khai những đề tài riêng lẻ, Thành phố sẽ tập trung nguồn lực vào các cụm và chuỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết trọn vẹn những bài toán thực tiễn của chính quyền, doanh nghiệp và người dân. Cụ thể, cụm nhiệm vụ là các nhiệm vụ cùng hướng tới một mục tiêu chung, còn chuỗi nhiệm vụ được thiết kế theo trình tự, trong đó kết quả của nhiệm vụ trước trở thành đầu vào của nhiệm vụ tiếp theo. Cách tiếp cận này cũng đòi hỏi sự tham gia thực chất của mô hình “ba nhà”, gồm cơ quan quản lý, viện - trường và doanh nghiệp, để kết quả nghiên cứu có thể nhanh chóng chuyển thành sản phẩm ứng dụng.

Bên cạnh đó, TP HCM cũng đặt ra các chỉ tiêu gắn trực tiếp với khả năng ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong giai đoạn 2026–2030. Khoảng 60% kết quả nghiên cứu của các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp thành phố phải được đưa vào ứng dụng; từ 8% đến 10% kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ được thương mại hóa. Thành phố cũng đặt mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng kết quả nghiên cứu từ viện, trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh lên trên 25% vào năm 2030. Để bảo đảm nguồn lực, tổng chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) dự kiến đạt khoảng 2%–3% GRDP, trong đó khu vực xã hội đóng góp khoảng 60% tổng nguồn vốn.

Thay vì phân bổ dàn trải, nguồn lực đầu tư sẽ tập trung vào bảy chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm. Trong đó, công nghệ số và đô thị thông minh được ưu tiên để phát triển các công nghệ số chiến lược; chương trình công nghiệp và sản xuất thông minh tập trung ngân sách cho vi mạch, chip, công nghệ lõi, dây chuyền sản xuất thông minh, nền tảng số và dữ liệu công nghiệp phục vụ chuyển đổi xanh và mục tiêu Net Zero. Các chương trình còn lại hướng vào phát triển công nghệ y sinh, dược, y tế số và trí tuệ nhân tạo; nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học; cùng các giải pháp phục vụ quản trị đô thị như giao thông, môi trường, năng lượng, chống ngập và mô hình bản sao số (digital twin).

Song song với việc thay đổi định hướng đầu tư, TP HCM cũng điều chỉnh cơ chế tài chính đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Theo ông Trần Hữu Chương, Phó Trưởng phòng Kế hoạch - Tài chính Sở KHCN TP HCM, các nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu về chất lượng và sản phẩm đầu ra sẽ được áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng. Việc thanh toán căn cứ vào kết quả nghiệm thu của hội đồng tư vấn, thay vì kiểm soát chi tiết từng khoản chi phát sinh trong quá trình thực hiện.

Đối với phần kinh phí giao khoán, cơ quan quản lý không kiểm tra chứng từ chi tiết. Đơn vị chủ trì tự quản lý, tự chịu trách nhiệm và gửi bảng kê khối lượng công việc cùng chứng từ theo quy định để thực hiện thanh toán. Cùng với đó, thời gian phê duyệt nhiệm vụ được rút ngắn từ 110 ngày xuống còn 90 ngày.

Việc nới lỏng thủ tục trong quá trình thực hiện đi kèm với cơ chế hậu kiểm chặt chẽ hơn. Theo đó, các nhiệm vụ sẽ được đánh giá tác động trong khoảng từ hai đến năm năm sau khi kết thúc. Trong thời gian này, tổ chức chủ trì và chủ nhiệm nhiệm vụ có trách nhiệm cập nhật định kỳ kết quả ứng dụng lên nền tảng số quốc gia để phục vụ công tác theo dõi và đánh giá.

Cơ chế mới cũng trao nhiều quyền chủ động hơn cho đơn vị thực hiện nhiệm vụ. Chủ nhiệm nhiệm vụ được quyết định việc khoán thù lao cho các thành viên theo hợp đồng chuyên môn hoặc quyết định giao việc, trong khi đơn vị chủ trì tự chịu trách nhiệm về việc quản lý kinh phí và lưu giữ hồ sơ phục vụ công tác hậu kiểm. Việc chuyển sang quản lý theo sản phẩm đầu ra đồng nghĩa với việc tăng trách nhiệm giải trình của đơn vị thực hiện, thay vì tập trung vào kiểm soát thủ tục trong quá trình triển khai.

Theo phân công, Sở KHCN TP HCM giữ vai trò điều phối chương trình, Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ TP HCM tổ chức triển khai các nhiệm vụ, còn Sở Tài chính TP HCM bố trí nguồn vốn thực hiện. Với cách tiếp cận mới, TP HCM kỳ vọng nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ sẽ thúc đẩy hình thành những sản phẩm có khả năng ứng dụng, thương mại hóa và giải quyết các bài toán phát triển của Thành phố.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
TP HCM đổi mới cách thức đầu tư khoa học công nghệ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO