Thông qua “hệ sinh thái GMT”, các đối tượng bị cáo buộc đưa ra nhiều quyền lợi hấp dẫn để huy động tiền, khiến 1.259 người bị chiếm đoạt khoảng 89 tỷ đồng.
Viện KSND Tối cao vừa ban hành cáo trạng truy tố Sỹ Anh Tuyên, Nguyễn Thị Hồng Nhung và Trần Trí Trung cùng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” trong vụ án xảy ra tại Công ty Cổ phần nước GMT

Theo cáo trạng, vụ án có 1.259 người bị hại, tổng số tiền bị chiếm đoạt khoảng 89 tỷ đồng. Đây là vụ án cho thấy thủ đoạn huy động vốn bằng việc dựng lên các quyền lợi hấp dẫn trong một “hệ sinh thái” doanh nghiệp được quảng bá bài bản.
Công ty Cổ phần nước GMT, tiền thân là Công ty Cổ phần nước CNA, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nước uống. Quá trình điều hành doanh nghiệp, Sỹ Anh Tuyên cùng các bị cáo đã xây dựng mô hình “hệ sinh thái GMT” với nhiều chi nhánh, công ty thành viên nhằm tạo hình ảnh một hệ thống kinh doanh có quy mô lớn.
Theo cáo trạng, các bị cáo đưa ra nhiều “bánh vẽ” về quyền lợi để lôi kéo người dân góp vốn. Người tham gia được giới thiệu có cơ hội trở thành cổ đông, thành viên trong hệ sinh thái, được hưởng lợi nhuận, nhận quyền lợi tài chính và tham gia vào mạng lưới kinh doanh đang phát triển.
Thông qua các “giao ước thỏa thuận tài chính”, “biên bản thỏa thuận góp vốn kinh doanh thành lập công ty TNHH hoặc công ty cổ phần”, nhóm bị cáo huy động tiền của nhiều cá nhân trên cả nước. Trong đó, Nguyễn Thị Hồng Nhung được xác định là người ký các thỏa thuận, tiếp nhận tiền từ người góp vốn. Các chi nhánh, công ty thành viên trong “hệ sinh thái GMT” được sử dụng như một công cụ để mở rộng mạng lưới, tạo niềm tin và thúc đẩy thêm nhiều người tham gia.
Điểm đáng chú ý là mô hình này không chỉ đánh vào kỳ vọng lợi nhuận, mà còn tạo cảm giác người góp vốn đang tham gia vào một hệ thống doanh nghiệp có thật, có pháp nhân, có chi nhánh và có định hướng phát triển dài hạn.
Chính cách dựng lên “hệ sinh thái” với nhiều quyền lợi đi kèm đã khiến không ít người tin rằng khoản tiền bỏ ra là khoản đầu tư hợp pháp, có khả năng sinh lời, thay vì nhìn thấy rủi ro phía sau các cam kết được quảng bá.
Theo cáo trạng, hoạt động kinh doanh thực tế không đủ cơ sở để tạo ra nguồn lợi nhuận tương ứng với các quyền lợi đã cam kết. Khi dòng tiền không còn bảo đảm, nhiều người góp vốn mới phát hiện mình rơi vào bẫy lừa đảo.
Vụ án thêm một lần cho thấy những mô hình huy động vốn núp bóng “hệ sinh thái”, “công ty thành viên”, “góp vốn kinh doanh” rất dễ tạo cảm giác an toàn nếu người tham gia chỉ nhìn vào quyền lợi được giới thiệu mà không kiểm chứng năng lực tài chính, vốn thực góp và hoạt động kinh doanh thực chất.
Trao đổi với phóng viên, Luật sư Tạ Anh Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH Tạ Anh Tuấn cho rằng trong nhiều vụ việc lừa đảo tài chính, các đối tượng thường không huy động tiền bằng một lời hứa đơn lẻ, mà dựng lên cả hệ thống quyền lợi, hợp đồng, pháp nhân và mạng lưới giới thiệu để tạo niềm tin.
Theo luật sư, điểm nguy hiểm của các mô hình này là người góp vốn dễ nhầm lẫn giữa việc được ký giấy tờ, được giới thiệu về công ty thành viên hoặc được hứa hẹn quyền lợi tài chính với tính an toàn của khoản đầu tư.
“Không phải cứ có hợp đồng, có công ty thành viên hoặc có hệ sinh thái được quảng bá rộng rãi thì khoản góp vốn đã an toàn. Điều quan trọng là phải kiểm chứng dòng tiền, năng lực tài chính, vốn thực góp và hoạt động kinh doanh thực chất của doanh nghiệp”, Luật sư Tạ Anh Tuấn nhận định.
Theo ông Tuấn, trước các mô hình mời gọi góp vốn với nhiều quyền lợi vượt trội, người dân cần đặc biệt thận trọng, nhất là khi lợi nhuận phụ thuộc vào việc mở rộng mạng lưới hoặc thu hút thêm người tham gia mới.
“Vụ án này lời cảnh báo về những mô hình huy động vốn núp bóng hệ sinh thái doanh nghiệp. Khi quyền lợi được vẽ ra càng hấp dẫn, người góp vốn càng cần tỉnh táo nhìn vào nền tảng thật phía sau: vốn ở đâu, kinh doanh gì, lợi nhuận đến từ hoạt động nào và ai chịu trách nhiệm khi dòng tiền đổ vỡ”, Luật sư Tuấn nhấn mạnh.