Tín dụng - Ngân hàng

5 đề xuất chiến lược cho ngành ngân hàng trong bối cảnh mới

Lê Mỹ • 07/11/2026 11:21

Theo ông Nguyễn Hữu Hiệu - Tổng Giám đốc FiinGroup, để đáp ứng nhu cầu vốn lớn hơn cho nền kinh tế giai đoạn tới, song song với phát triển thị trường vốn, ngành ngân hàng cần có các định hướng chiến lược bền vững.

Việt Nam có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn cho việc phát triển trong 5 năm tới, giai đoạn 2026 - 2030). Ước tính, nhu cầu vốn khổng lồ lên tới khoảng 1.500 tỷ USD để hỗ trợ toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Hiện nay, các con số cho thấy nhu cầu này đang phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống ngân hàng thông qua kênh tín dụng.

Áp lực ngân hàng trước cầu tín dụng

So với tương quan của Việt Nam so với các nước trong khu vực cho thấy, quy mô của hệ thống ngân hàng Việt Nam đang lớn hơn rất nhiều so với quy mô của thị trường vốn ngoài ngân hàng, tức là thị trường trái phiếu, ông Nguyễn Hữu Hiệu phân tích.

Lợi nhuận ngành ngân hàng năm 2024 có sự phân hóa, song Vietcombank (VCB) tiếp tục giữ ngôi vương và đầu năm 2025, đã lên kế hoạch chia cổ tức mức kỷ lục. Ảnh minh họa: Quốc Tuấn
Các ngân hàng có vốn nhà nước chịu áp lực lớn khu nhu cầu tín dụng cao trong khi bộ đệm vốn còn mỏng. (Ảnh minh họa: Quốc Tuấn)

Tuy nhiên, theo Tổng Giám đốc FiinGroup, nhìn vào hiện trạng đệm vốn (Capital base) của các ngân hàng hiện nay, có thể thấy đệm vốn của ngân hàng Việt Nam đang ở mức tương đối khiêm tốn. Nếu nhìn kỹ hơn, các ngân hàng thương mại nhà nước (nhóm Big 4) có mức trung vị của tỷ lệ an toàn vốn đang thấp hơn so với các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân. Điều này đặt ra áp lực rất lớn, mặc dù vai trò của các ngân hàng thương mại nhà nước là cực kỳ quan trọng.

Trong ngắn hạn và dài hạn, yêu cầu đặt ra liên quan đến việc phải tăng đệm vốn cho các ngân hàng thương mại nói chung, đặc biệt là ngân hàng thương mại nhà nước, là một thách thức lớn nhằm vừa đáp ứng nhu cầu tăng trưởng bền vững, vừa đảm bảo tính an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam. Đây không chỉ là thách thức cho các ngân hàng thương mại nhà nước mà còn cho cả hệ thống ngân hàng tư nhân trong việc đảm bảo vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế, đồng thời tuân thủ các quy định an toàn như chuẩn mực Basel III cũng như các Thông tư mới của Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ an toàn vốn (CAR), ông Hiệu nhận xét.

"Người chơi chính" trên thị trường trái phiếu

Nếu nhìn sâu hơn, vai trò của ngân hàng với tư cách là đơn vị cấp vốn không chỉ dừng lại ở tín dụng. Nhìn vào cơ cấu nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam, theo ông Nguyễn Hữu Hiệu, ngân hàng là tổ chức nắm giữ tương đối lớn, chiếm khoảng gần 60% tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành. Ngân hàng cũng là tổ chức nắm giữ lượng trái phiếu chính phủ rất lớn, chỉ sau Quỹ Bảo hiểm xã hội và các công ty bảo hiểm nhân thọ.

Có thể nói, vai trò của ngân hàng với tư cách là nhà đầu tư trái phiếu đang rất lớn. Điều này hàm ý sự phụ thuộc vào ngân hàng trong việc vừa phát hành trái phiếu, vừa cấp tín dụng, vừa mua trái phiếu. Sự phụ thuộc này đặt ra vấn đề liên quan đến tính bền vững: Khi có sự cố xảy ra như một số trường hợp chúng ta đã chứng kiến, hệ lụy đối với nền kinh tế là rất lớn. Đây là điều chúng ta cần đặc biệt lưu tâm, ông Hiệu chia sẻ.

Thống kê của FiinGroup cho thấy, chỉ tính riêng trong 9 tháng đầu năm nay (năm 2026), các ngân hàng thương mại đã phát hành một lượng trái phiếu rất lớn, khoảng gần 20 tỷ USD. Đó là lượng vốn huy động của ngân hàng qua các kênh khác nhau, bao gồm trái phiếu doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Các khoản vay ngoại tệ từ nước ngoài đa số cũng do các ngân hàng thực hiện, chiếm khoảng gần 70%, trong khi các doanh nghiệp phi ngân hàng chỉ chiếm chưa đến 30%.

Đáng chú ý, khoảng 53% tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong 9 tháng đầu năm 2026 là do các ngân hàng thương mại phát hành. Như vậy, vai trò của ngân hàng trong việc vừa phát hành, vừa đi mua trái phiếu doanh nghiệp, vừa mua trái phiếu chính phủ là quá lớn.

Việc này vô hình trung làm giảm đi vai trò của khu vực phi ngân hàng (bao gồm các tổ chức tín dụng không nhận tiền gửi (Non-depositing lenders) và các doanh nghiệp nói chung). Về mặt cấu trúc, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam có một thực tế là đa số dư nợ mang lãi suất thả nổi và lợi suất trái phiếu chưa phản ánh đúng rủi ro tín dụng do thiếu các tổ chức định giá trái phiếu cũng như thiếu các đường cong lợi suất (Yield curve) chuẩn, ví dụ như Hàn Quốc hay Malaysia đã xây dựng được đường cong lợi suất và các tổ chức định giá trái phiếu doanh nghiệp để làm cơ sở tham chiếu.

Các đề xuất chiến lược

Theo ông Nguyễn Hữu Hiệu, chính vì thiếu cơ sở tham chiếu này nên thị trường tạo ra độ biến động rất cao và thiếu tính ổn định trong dài hạn. "Đó là lý do chúng tôi nhấn mạnh việc phát triển "Hạ tầng mềm" (Soft infrastructure) như một phần quan trọng trong đề xuất phát triển thời gian tới", ông nói.

Ông Nguyễn Hữu Hiệu - Tổng Giám đốc FiinGroup
Ông Nguyễn Hữu Hiệu - Tổng Giám đốc FiinGroup

Cùng với đó, trong giai đoạn tới, lãnh đạo công ty xếp hạng tín nhiệm cũng nêu một số đề xuất hướng chiến lược để ngành ngân hàng đóng vai trò lớn hơn và bền vững hơn.

Thứ nhất, nâng tầm vai trò của ngân hàng trong việc kết nối doanh nghiệp với các nguồn vốn dài hạn bổ trợ cho tín dụng ngân hàng. Ngân hàng cần phát huy lợi thế trung gian tài chính, không chỉ phát hành mà còn phân phối các sản phẩm tài chính, trong đó có trái phiếu, ra thị trường; đồng thời mở rộng hợp tác và tăng cường kết nối quốc tế. Khi làm được điều này, vai trò của ngân hàng không bị giảm đi mà sẽ tăng lên, vị thế được đa dạng hóa, giúp đa dạng nguồn thu nhập và đảm bảo tính ổn định trong vận hành.

Thứ hai, cần phát triển nhiều hơn các sản phẩm cho thị trường vốn để tiếp cận cơ sở nhà đầu tư rộng rãi tại Việt Nam, đặc biệt là nhà đầu tư tổ chức. Đây cũng là chương trình lớn mà Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện nhằm phát triển các quỹ đầu tư cũng như nhà đầu tư chuyên nghiệp, tạo ra nguồn vốn dài hạn hỗ trợ cho nền kinh tế. Khi làm được như vậy, chúng ta sẽ có một hệ thống ngân hàng bền vững hơn và đóng vai trò tốt hơn trong việc cung ứng vốn dưới nhiều hình thức khác nhau.

Thứ ba, trong vài năm tới, khi quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt mốc khoảng 1.000 tỷ USD, quy mô của hệ thống ngân hàng và thị trường vốn sẽ rất khác so với hiện nay. Do đó, những cải cách này là bắt buộc để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao trong 5 năm tới. Nếu hệ thống ngân hàng không thành công hoặc thị trường vốn không phát triển tương ứng, rất khó để hiện thực hóa tham vọng tăng trưởng đó.

Thứ tư, phát triển hạ tầng mềm và hệ sinh thái thể chế. "Tại FiinGroup và FiinRatings, chúng tôi thực hiện rất nhiều hoạt động xếp hạng tín nhiệm, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm (Early Warning System) cho ngân hàng, cũng như cung cấp giải pháp tài trợ chuỗi cung ứng (Supply Chain Finance). Chúng tôi rất mong muốn thị trường phát triển hơn nữa để các công cụ và hạ tầng mềm phát triển tương ứng. Các đơn vị trung gian như tổ chức xếp hạng tín nhiệm, kiểm toán, tư vấn cần đóng vai trò lớn hơn để phát triển hạ tầng mềm này", ông Hiệu cho biết.

Cuối cùng, ông nhấn mạnh, thị trường vốn và thị trường ngân hàng là "Thị trường của Niềm tin". Niềm tin được xây dựng từ sự tham gia của nhiều bên thứ ba (đơn vị kiểm toán, tư vấn, xếp hạng tín nhiệm...) nhằm giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp phát hành. Chuyên gia nhìn nhận, chúng ta phát triển được hạ tầng mềm, thể chế mềm, kết hợp với vai trò của dữ liệu và các bên liên quan, chúng ta mới có một thể chế đủ tốt để hỗ trợ sự phát triển bền vững cho cả thị trường vốn và hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
5 đề xuất chiến lược cho ngành ngân hàng trong bối cảnh mới
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO