Doanh nhân Lê Hồng Thủy Tiên đề xuất 6 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chi tiêu của du khách, giữ chân dòng ngoại tệ và biến mua sắm trở thành động lực tăng trưởng kinh tế mới.
Năm 2025 Việt Nam đón khoảng 21,2 triệu lượt khách quốc tế, mức cao kỷ lục, vượt cả thời điểm trước dịch COVID-19. Tổng thu từ du lịch cũng vượt mốc 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, cơ cấu chi tiêu cho thấy khách chủ yếu chi cho lưu trú, ăn uống, đi lại, trong khi chi tiêu cho mua sắm còn khiêm tốn. Vấn đề không phải du khách không muốn chi mà chúng ta chưa cho họ đủ lý do để chi.

Theo Tân Hoa Xã, trong năm 2024, TP Đông Hưng của Trung Quốc đón gần 16 triệu lượt khách, tổng thu du lịch khoảng 2,12 tỷ USD, tương đương khoảng 52.000 tỷ đồng, chủ yếu từ bán lẻ, mua sắm xuyên biên giới và thương mại. Trong khi đó, theo công bố của thành phố Móng Cái (Việt Nam), năm 2024 thu hút khoảng 4 triệu lượt khách, doanh thu dịch vụ du lịch đạt khoảng trên 250 tỷ đồng, tương đương khoảng 10 triệu USD. Đáng chú ý, trong khoảng 8 triệu lượt khách qua TP. Đông Hưng năm 2024, người Việt chiếm khoảng 30%, phần lớn sang để mua sắm, giao thương.
Từ năm 2011, Trung Quốc cho phép du khách nội địa mua hàng miễn thuế khi rời Hải Nam về đất liền, với hạn mức khoảng 14.000 USD mỗi người mỗi năm. Sau 15 năm, doanh thu miễn thuế tại Hải Nam đạt khoảng 41,7 tỷ USD. Trung Quốc thiết kế chính sách để giữ dòng chi tiêu của công dân mình ở trong nước. Du khách Trung Quốc vốn nổi tiếng đi khắp thế giới mua sắm nhưng khi có cơ chế phù hợp thì họ lại quay về Hải Nam để chi tiêu.
So với Việt Nam, đây là vấn đề rất đáng suy nghĩ. Theo số liệu Cục Thống kê công bố ngày 6/1/2025, năm 2024 khách quốc tế chi tại Việt Nam khoảng 12,19 tỷ USD, trong khi người Việt chi ở nước ngoài khoảng 12,57 tỷ USD. Như vậy, Việt Nam nhập siêu du lịch gần 400 triệu USD.
Không phải toàn bộ số tiền người Việt chi ở nước ngoài là mua sắm vì còn có du học, chữa bệnh, công tác... Tuy nhiên, một phần đáng kể là chi cho mua sắm tại Bangkok, Singapore, Seoul, Tokyo thông qua thẻ tín dụng và các kênh thanh toán khác. Vì thế, nếu chỉ đếm số lượng khách đến mà không quan tâm họ chi bao nhiêu, chi vào đâu và người Việt mang bao nhiêu tiền ra nước ngoài thì kích cầu mãi chỉ là con số đẹp trên giấy.
Từ thực tế này, tôi xin đề xuất 6 nhóm giải pháp. Thứ nhất, cần nâng cấp hệ thống hoàn thuế giá trị gia tăng cho du khách. Việt Nam đã có cơ chế hoàn thuế VAT, nhưng chưa đủ mạnh để cạnh tranh với Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Vì thế, cần số hóa và kết nối đồng bộ giữa doanh nghiệp, cơ quan thuế và hải quan trên nền tảng hóa đơn điện tử. Đồng thời, nên mở rộng cơ chế để doanh nghiệp tự nguyện tham gia, nghiên cứu hoàn thuế tại điểm bán đối với một số nhóm hàng đủ điều kiện.
Thứ hai, cần quy hoạch lại các điểm bán lẻ tại các điểm du lịch trọng điểm. Hiện nay, nhiều điểm du lịch nổi tiếng vẫn khai thác tự phát, hàng hóa trùng lắp, chất lượng không đồng đều, thậm chítạo ra những hình ảnh chưa đẹp trong mắt du khách. Việt Nam có nhiều sản phẩm chất lượng, bản sắc và được du khách yêu thích, nhưng cần được đưa vào hệ thống bán lẻ chuyên nghiệp, có tiêu chí rõ ràng về mặt bằng, trưng bày, dịch vụ và trải nghiệm mua sắm.
Thứ ba, cần phát triển hệ thống cửa hàng miễn thuế và Outlet đúng bản chất. Với Outlet quy mô quốc gia, cần có quỹ đất sạch và cơ chế ưu đãi phù hợp vì bản chất outlet là giảm giá quanh năm, lợi nhuận mỏng, vòng quay vốn dài. Nếu áp dụng cơ chế đấu giá, đấu thầu đất như bất động sản thương mại thông thường, nhà đầu tư Outlet rất khó tham gia. Trong khi Outlet không chỉ bán hàng hiệu tồn kho mà còn có thể là kênh bán hàng Việt Nam chất lượng cao. Những sản phẩm Việt có chất lượng, mẫu mã tốt có thể được đặt ngang hàng với thương hiệu quốc tế trong một không gian được tổ chức, quản lý bài bản.
Bên cạnh đó, cần nâng trần khuyến mãi 50%, bởi nếu outlet phải giảm giá quanh năm mà vẫn bị khống chế mức khuyến mãi thì mô hình này chưa ra đời đã gặp vướng mắc pháp lý. Ngoài ra, cần nghiên cứu cơ chế mua sắm miễn thuế có kiểm soát tại các khu kinh tế cửa khẩu, khu phi thuế quan, khu thương mại tự do, áp dụng cho cả khách quốc tế và người Việt.
Thứ tư, cần nâng tầm thương hiệu Việt, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nếu muốn biến Việt Nam thành điểm đến mua sắm, phải có sản phẩm đặc sản, khác biệt, mang bản sắc Việt. Du khách quốc tế không chỉ tìm thương hiệu lớn, mà còn muốn mua những món quà độc đáo, có câu chuyện văn hóa để mang về nước.
IPPG đã phối hợp với các tổ chức như UN Women và VCCI để đào tạo, đưa sản phẩm của doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ vào hệ thống cửa hàng miễn thuế. Tuy nhiên, quy mô hiện còn nhỏ. Do đó, Chính phủ cần nâng việc này thành chương trình quốc gia, có KPI cụ thể mỗi năm đưa thêm hàng trăm, thậm chí hàng ngàn thương hiệu Việt vào các kênh bán lẻ du lịch. Doanh nghiệp Việt không thiếu chất mà thiếu một cây cầu, thiếu chính sách và sự hỗ trợ đủ vững để bước ra thế giới.
Thứ năm, cần đầu tư các trung tâm thương mại, du lịch quy mô quốc gia tại các đô thị lớn. Nếu outlet thường nằm xa trung tâm để phục vụ mua sắm kết hợp vui chơi thì ngay trong trung tâm các thành phố lớn vẫn cần những tổ hợp thương mại, du lịch, giải trí, văn hóa, nghệ thuật và ẩm thực quy mô quốc gia. Một mô hình tham chiếu là Iconsiam tại Bangkok, nơi các thương hiệu xa xỉ quốc tế cùng tồn tại với không gian tái hiện bản sắc văn hóa và làng nghề Thái Lan.
Việt Nam với 34 tỉnh thành, mỗi nơi đều có câu chuyện riêng, hoàn toàn có thể xây dựng một mô hình tương tự nhưng mang đậm bản sắc Việt Nam. Tuy nhiên, để làm được thì cần cơ chế tiếp cận đất đai phù hợp. Nếu chi phí đất quá cao, giá thuê sẽ bị đẩy lên và doanh nghiệp Việt nhỏ khó có chỗ đứng. Các ưu đãi nếu có, cần gắn với nghĩa vụ rõ ràng của nhà đầu tư như tỷ lệ tối thiểu thương hiệu Việt, giá thuê ưu đãi cho doanh nghiệp Việt, cam kết việc làm, doanh thu và xuất khẩu tại chỗ.
Thứ sáu, cần định danh thương mại du lịch là một hình thức xuất khẩu tại chỗ. Bởi khi khách quốc tế đến và mua sản phẩm Việt ngay tại Việt Nam, đó chính là xuất khẩu. Hình thức này có nhiều lợi thế vì giá trị gia tăng được giữ lại trong nước, không tốn chi phí logistics quốc tế, không chịu rủi ro tỷ giá và không phải qua nhiều tầng trung gian.
Vì thế, cần đưa thương mại du lịch vào chiến lược xuất khẩu quốc gia, đồng thời cho doanh nghiệp bán lẻ du lịch tiếp cận các chính sách tín dụng xuất khẩu, xúc tiến thương mại, bảo lãnh đầu tư và các công cụ hỗ trợ khác như các ngành xuất khẩu truyền thống. Mục tiêu cốt lõi là giữ chi tiêu của khách quốc tế ở lại Việt Nam, đồng thời giữ sức mua của người Việt ở lại Việt Nam. Mỗi phần trăm chi tiêu mua sắm được giữ lại có thể tương đương hàng tỷ USD ở lại với nền kinh tế. Qua đó, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm nay và những năm tiếp theo.