Trong bối cảnh cạnh tranh, doanh nghiệp buộc phải chuyển hướng sang chiến lược nâng cao giá trị, tập trung vào chất lượng, công nghệ và xây dựng chuỗi liên kết.
Trong giai đoạn cuối tháng 3, đầu tháng 4/2026, nhiều doanh nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản đã điều chỉnh tăng giá bán, với mức tăng phổ biến từ vài trăm đồng đến khoảng vài nghìn đồng/kg. Điều này dẫn đến khả năng cạnh tranh của tôm Việt Nam trên thị trường quốc tế cũng chịu tác động. Áp lực càng gia tăng khi doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu tôm còn phải đối mặt với cạnh tranh khốc liệt từ các nguồn cung lớn, trong khi chi phí bao bì, vật tư, logistics và cước vận tải vẫn neo cao.. Đặc biệt, sự cạnh tranh thị trường và cấu trúc sản xuất tiếp tục là sức ép với doanh nghiệp.

Thực tế những năm gần đây, ngoài Việt Nam, còn 2 quốc gia khác đã vươn lên mạnh mẽ trong ngành tôm hiện nay là Ecuador và Ấn Độ. So sánh thực tế cạnh tranh thì Việt Nam không thể thắng Ecuador về chi phí, cũng không thể thắng Ấn Độ về quy mô. Do đó, nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam không nên đi theo hướng giảm chi phí “cost curve”, mà phải đi bằng giá trị “value curve”.
Cụ thể, cấu trúc sản xuất phân tán không chỉ làm gia tăng chi phí mà còn khiến việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng và truy xuất nguồn gốc trở nên khó khăn hơn. Trong bối cảnh các rào cản kỹ thuật và thương mại ngày càng gia tăng, việc phải đáp ứng đồng thời nhiều bộ tiêu chuẩn khác nhau từ các thị trường nhập khẩu đang trở thành gánh nặng không nhỏ đối với doanh nghiệp và người nuôi.
Phân tích về những khó khăn với ngành, TS Nguyễn Duy Hòa, Phó Giám đốc kỹ thuật Tập đoàn Cargill chia sẻ, Việt Nam có quy mô nuôi trồng nhỏ lẻ, ao nuôi chỉ từ 0,1 - 1ha, gây khó khăn trong tiêu chuẩn hóa. Trong khi đó, Ấn Độ trung bình từ 1 - 5ha/ao. Ecuador có quy mô lớn nhất, bình quân mỗi ao có diện tích từ 5 - 50ha.
Về chất lượng, tôm Việt Nam cũng được đánh giá kích cỡ không đồng đều, tôm dễ mềm do stress. Tôm Ấn Độ, chất lượng không ổn định. Trong khi đó, tôm Ecuador có chất lượng vượt trội nhờ hệ thống đồng bộ, thịt chắc, màu đẹp.
Về giống, trong khi Ecuador có hệ thống chọn giống khép kín (Closed-loop breeding system), thì Việt Nam phân mảnh. Còn Ấn Độ, dù giống có kiểm soát nhưng vẫn phụ thuộc.
Trước thực tế đó, vị chuyên gia nhận định, mô hình nuôi của Việt Nam nhỏ lẻ, mật độ nuôi cao, khó kiểm soát dịch bệnh, chất lượng, không có sự liên kết giữa giống; thức ăn; nuôi; chế biến, thị trường. Cùng với đó là thách thức về chi phí thức ăn cao, chiếm từ 50 - 60% chi phí sản xuất.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, áp lực chi phí gia tăng đang ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của tôm Việt Nam trên thị trường quốc tế. Khi giá thành sản xuất trong nước tăng, trong khi các đối thủ như Ecuador hay Ấn Độ vẫn duy trì lợi thế chi phí thấp, khoảng cách cạnh tranh về giá ngày càng bị nới rộng. Điều này khiến doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu đối mặt với sức ép lớn hơn trong bối cảnh thị trường tiêu thụ chưa thực sự phục hồi.

Do đó, Lãnh đạo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam nhấn mạnh đòi hỏi ngành tôm phải có sự điều chỉnh chiến lược sản xuất, tăng cường liên kết chuỗi và nâng cao hiệu quả để thích ứng với biến động của thị trường trong thời gian tới.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Hoà đề xuất ngành cần có 6 chiến lược, gồm, chiến lược 1 về vấn đề di truyền giống (genetics). Cần tạo ra giống tôm sạch bệnh, kháng bệnh, tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn. Thông điệp của chiến lược đầu tiên là “Tỷ lệ sống quan trọng hơn năng suất”.
Chiến lược 2 mang thông điệp “Thức ăn cao cấp không phải là chi phí mà là công cụ tạo lợi nhuận”. Theo đó, cần tối ưu hóa FCR (Feed Conversion Ratio - Hệ số chuyển đổi thức ăn) xuống mức thấp nhất, để nâng lợi nhuận, giảm chi phí sản xuất. Dùng nguyên liệu nội địa nhằm giảm phụ thuộc nhập khẩu. Sử dụng thức ăn chức năng (functional feed). Đặc biệt quan trọng ở giai đoạn tôm giống và giai đoạn đầu nuôi thịt.
Chiến lược 3, đẩy mạnh áp dụng công nghệ nuôi bằng IoT, AI. Trong đó bao gồm công nghệ Biofloc với mật độ tối ưu từ 80 - 120 con/m2 và diện tích ao, độ sâu ao đủ lớn và sâu giảm biến động môi trường, stress và gia tăng tỉ lệ sống cho tôm, giúp tăng trưởng nhanh; Công nghệ Eco-RAS Hệ thống tuần hoàn bền vững.
Chiến lược 4 với thông điệp “Lợi nhuận thực nằm ở chế biến và thương hiệu”. Theo đó, cần đầu tư về chuỗi giá trị gia tăng. Đa dạng sản phẩm từ tôm như tôm nấu chín; tôm bóc vỏ, sẵn cho người ăn (ready-to-eat). Truy xuất nguồn gốc đảm bảo cho thị trường xuất khẩu đạt chuẩn. Tạo thương hiệu tôm Việt Nam chất lượng cao “Vietnam premium shrimp”. Chiến lược 5 là vấn đề thị trường.
Ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, để đạt được mục tiêu xuất khẩu thuỷ sản đến năm 2030 đất 9,8 triệu tấn về sản lượng, xuất khẩu thủy sản 14 - 16 tỷ USD, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là yếu tố nền tảng cốt lõi, giữ vai trò then chốt trong quá trình phát triển, đúng với tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Ông Hùng cho rằng, trong giai đoạn tới, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo ngành thủy sản sẽ tập trung vào: Phát triển giống thủy sản chủ lực sạch bệnh, tăng trưởng nhanh; ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ số; phát triển nuôi trồng thủy sản thông minh; hiện đại hóa khai thác, giảm tổn thất sau thu hoạch; phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong thủy sản.