Doanh nghiệp

"Chìa khóa" để doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu

Lê Mỹ 21/08/2026 23:12

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang trải qua nhiều biến động, việc làm rõ điều gì thực sự quyết định một doanh nghiệp có tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu hay không trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Ông Nguyễn Đức Huy - Phó Giám đốc Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 tại TP Hồ Chí Minh (HCMC C4IR) phát biểu tại Diễn đàn đối thoại: “Việt Nam và ASEAN trong chuỗi giá trị toàn cầu: Từ Tín hiệu đến Hành động” do HCMC C4IR tổ chức chiều 21/8 tại TP HCM.

Từ vị trí doanh nghiệp trong mạng lưới tạo ra giá trị

Ông Huy cho biết, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang trải qua nhiều biến động, việc làm rõ điều gì thực sự quyết định một doanh nghiệp có tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu hay không trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Những biến động địa chính trị trong thời gian qua đã tác động đến chi phí đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất, cho thấy mức độ nhạy cảm của các nền kinh tế có chuỗi cung ứng phụ thuộc vào một số điểm kết nối nhất định.

mh_05983.jpg
Ông Nguyễn Đức Huy - Phó Giám đốc Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 tại TP Hồ Chí Minh

Đồng thời, Báo cáo Triển vọng Chuỗi giá trị toàn cầu năm 2026 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố tại Diễn đàn Davos ngày 19 tháng 1 năm 2026 cho thấy rằng phần lớn lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất trên thế giới đang ưu tiên tổ chức lại chuỗi cung ứng theo hướng khu vực hóa, dựa trên các yếu tố về mức độ sẵn sàng cung ứng chứ không chỉ đơn thuần là chi phí lao động. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh chính sách thuế quan của các nền kinh tế lớn, trong đó có mức thuế riêng áp dụng đối với hàng hóa trung chuyển, cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các nền kinh tế còn phụ thuộc vào công đoạn lắp ráp có giá trị gia tăng thấp.

"Ba diễn biến nêu trên có chung một hàm ý. Đó là tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp trong chuỗi giá trị toàn cầu đã thay đổi. Doanh nghiệp được lựa chọn không còn chủ yếu vì làm ra sản phẩm với chi phí thấp nhất, mà thay vào đó, phải chứng minh được năng lực về dữ liệu, tiêu chuẩn, tốc độ sản xuất để đáp ứng với nhu cầu cấp thiết và cũng như mức độ minh bạch trong toàn bộ quá trình vận hành", ông Nguyễn Đức Huy nêu.

Đối với Việt Nam, Phó Giám đốc HCMC C4IR phân tích một thực tế là: Kim ngạch xuất khẩu năm 2024 đạt 405,5 tỷ USD, tăng 14,3% so với năm trước, nhưng khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ đóng góp 28,3% con số đó. Đáng lưu ý hơn, theo Báo cáo Việt Nam 2045 của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp nội địa đã giảm từ 35% năm 2009 xuống còn 18% năm 2023 — suy giảm liên tục trong suốt mười bốn năm, diễn ra song song với quá trình tăng trưởng xuất khẩu. "Điều này cho thấy, thách thức của chúng ta không nằm ở năng lực xuất khẩu, mà nằm ở vị trí mà doanh nghiệp đang đứng trong mạng lưới tạo ra giá trị", ông nói.

Khoảng cách giữa hai chỉ số này cùng cho thấy yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là tiếp tục mở rộng quy mô xuất khẩu, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, gia tăng giá trị nội địa và từng bước tham gia vào các phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Ở cấp độ khu vực, khoảng cách cũng thể hiện rõ. Với quy mô dân số hơn 700 triệu người và tổng sản phẩm quốc nội gộp khoảng 3.800 tỷ USD, ASEAN hiện là một trong những khối kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của thế giới, song thương mại nội khối chỉ chiếm khoảng 22% tổng thương mại của khu vực, thấp hơn đáng kể so với mức 67% của Liên minh châu Âu. Rào cản chính không còn nằm ở thuế quan, khi Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN đã xóa bỏ tới 98,6% dòng thuế, mà nằm ở sự thiếu thống nhất về dữ liệu, quy định và tiêu chuẩn số giữa các nền kinh tế thành viên. Đây cũng là những nội dung mà Hiệp định khung Kinh tế số ASEAN (DEFA), dự kiến hoàn tất trong năm 2026, hướng tới giải quyết — mở ra dư địa để các nền kinh tế trong khu vực, trong đó có Việt Nam, cùng tham gia xây dựng khuôn khổ kết nối chuỗi giá trị khu vực.

Đến yêu cầu mới từ phía nhà mua hàng quốc tế

Tại Diễn đàn, các diễn giả chứng minh, các nhà mua hàng toàn cầu đang xây dựng tiêu chí đánh giá nhà cung cấp với sự thay đổi rõ rệt trong khoảng ba năm trở lại đây. Bên cạnh những yếu tố nền tảng như chất lượng, chi phí, năng lực sản xuất, tuân thủ và tiến độ giao hàng, ba nhóm yêu cầu mới đang dần trở thành điều kiện tham gia.

Kết nối số và minh bạch dữ liệu: Khả năng trao đổi thông tin liền mạch, cung cấp dữ liệu đáng tin cậy về sản xuất và tồn kho, đồng thời kết nối được với các quy trình làm việc số của khách hàng. Khả năng luân chuyển dữ liệu hiệu quả đang trở nên quan trọng gần ngang với khả năng luân chuyển hàng hóa hiệu quả.

Khả năng chống chịu và thích ứng nhanh: Ứng phó kịp thời với những thay đổi về nhu cầu, gián đoạn nguồn cung, thiếu hụt nguyên vật liệu hay thay đổi về quy định. Những gián đoạn trong vài năm qua cho thấy chỉ hiệu quả thôi là chưa đủ.

Tính bền vững và trách nhiệm trong vận hành: Chứng minh được những tiến bộ có thể đo lường về tác động môi trường, phúc lợi người lao động và khả năng truy xuất nguồn gốc xuyên suốt chuỗi giá trị.

Điểm chuyển dịch đáng chú ý là ở cách đánh giá: Trước đây, nhà cung cấp chủ yếu được nhìn nhận dựa trên năng lực sản xuất được gì; hiện nay còn được đánh giá dựa trên cách vận hành — mức độ minh bạch, tinh thần trách nhiệm và khả năng hợp tác trong một chuỗi giá trị toàn cầu ngày càng kết nối chặt chẽ.

Chia sẻ tại Diễn đàn, đại diện từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã phác thảo bối cảnh mới của chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực, giới thiệu khung Chuẩn bị cho Tương lai về Chuỗi Giá trị Toàn cầu (Future-Proofing Global Value Chains) cùng mức độ sẵn sàng của các quốc gia cho tương lai ngành sản xuất và chuỗi cung ứng. Bà cũng đồng thời đề cập Hiệp định khung Kinh tế số ASEAN (DEFA), là khuôn khổ sẽ định hình cách dữ liệu, tiêu chuẩn và giao dịch số vận hành trong khu vực nhiều năm tới.

Theo đó, các chuyên gia Diễn đàn Kinh tế Thế giới khẳng định, trong bối cảnh chuỗi giá trị toàn cầu đang dịch chuyển, ASEAN có cơ hội định vị mình là một trung tâm sản xuất đáng tin cậy trong bối cảnh các thị trường ngày càng phân mảnh. Lợi thế của khu vực nằm ở khả năng kết nối các năng lực bổ trợ của từng quốc gia thông qua việc xây dựng và phát triển các chuỗi giá trị khu vực. Khả năng liên thông và tương tác trong khu vực thông qua việc hài hòa các tiêu chuẩn số, phát triển công nghệ và tăng cường hợp tác nhân tài có thể khai mở quy mô, nâng cao khả năng chống chịu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, qua đó thu hút đầu tư chất lượng cao, giữ lại nhiều hơn giá trị gia tăng và duy trì tăng trưởng dài hạn.

Chuyển đổi từ năng lực nội tại của doanh nghiệp

Trước bối cảnh Hiệp định khung Kinh tế số ASEAN dự kiến được hoàn tất trong năm nay, ông Nguyễn Đức Huy cho rằng để doanh nghiệp có thể sử dụng được Khung Kinh tế số đó, năng lực nội tại của doanh nghiệp phải thay đổi trước, cụ thể là chuyển đổi sang sản xuất thông minh, từ khả năng ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, khả năng minh bạch hóa dữ liệu chuỗi cung ứng, khả năng kết nối hệ thống sản xuất với hệ thống quản trị của đối tác, và năng lực duy trì tiêu chuẩn ổn định ở quy mô lớn.

"Đây không phải là một xu hướng công nghệ để tham khảo, mà là điều kiện để bước vào mạng lưới. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới có điều kiện tham gia sâu hơn vào các công đoạn tạo giá trị cao, thay vì tiếp tục dừng lại ở công đoạn gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp", ông Huy nhấn mạnh.

mh_06363.jpg
Công bố Sáng kiến hợp tác với các đối tác đồng hành cùng HCMC C4IR trong xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi sản xuất thông minh

Một trong những điểm nhấn nổi bật của Diễn đàn - công bố Sáng kiến hợp tác với các đối tác đồng hành cùng HCMC C4IR trong xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi sản xuất thông minh, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hệ sinh thái được hình thành theo hướng kết nối các nguồn lực từ tài chính, công nghệ, tư vấn chiến lược, ESG, cải tiến vận hành đến đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

Theo đó, Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đồng hành cùng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp SME, trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững, thông qua việc kết nối các nguồn lực trong hệ sinh thái, đồng thời cung cấp các giải pháp tài chính phù hợp cho nhu cầu đầu tư, chuyển đổi sản xuất, chuyển đổi xanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu; Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế Tuần hoàn (ICED) là đối tác chuyên môn về ESG, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững; EY Việt Nam là đối tác tri thức, tham gia nghiên cứu, rà soát và hoàn thiện khung triển khai, phương pháp đánh giá và lộ trình chuyển đổi; Cộng đồng Lean Việt Nam (VLC) hỗ trợ cải tiến vận hành, nâng cao năng suất và chuẩn hóa quy trình; Công ty Cổ phần Công nghệ cao Toàn cầu Việt Nam (VGHT) đồng hành phát triển nền tảng số và kết nối các giải pháp công nghệ, chuyển đổi số và hệ thống quản trị; Gradion Vietnam tham gia vào đội ngũ tư vấn và triển khai, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển hóa kết quả đánh giá thành lộ trình và các hành động chuyển đổi cụ thể; Công ty TNHH CITARES đồng hành phát triển năng lực và nguồn nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao kỹ năng kỹ thuật, năng lực sản xuất thông minh và khả năng đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn đầu chuỗi, nhà mua hàng quốc tế.

Lãnh đạo HCMC C4IR cho biết, thông qua mạng lưới đối tác này, HCMC C4IR hướng tới hình thành hệ sinh thái hỗ trợ xuyên suốt, từ đánh giá năng lực, xác định lộ trình, cải tiến vận hành, ứng dụng công nghệ đến tiếp cận tài chính, chuyển đổi ESG và phát triển nguồn nhân lực; qua đó hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, gia tăng giá trị và từng bước tham gia vào các phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
"Chìa khóa" để doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO