Theo các chuyên gia, việc Ngân hàng Nhà nước dự kiến giữ nguyên lãi suất trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế duy trì tích cực là khả thi.
Lạm phát của Việt Nam giảm còn 2,53% so với cùng kỳ trong tháng 1/2026, từ 3,48% của tháng 12/2025 và thấp hơn dự báo 3,10%. Các nhóm hàng đóng góp chính vào mức tăng giá bao gồm thực phẩm, nhà ở và giáo dục. Trong bối cảnh giá dầu thô tăng do căng thẳng Trung Đông, kết hợp với triển vọng tăng trưởng trong nước vững vàng và áp lực giảm giá của VND, các chuyên gia Ngân hàng UOB kỳ vọng NHNN sẽ tiếp tục duy trì lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,50%.

Ông Suan Teck Kin, CFA, Giám đốc Khối nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB phân tích, tuy nhiên, diễn biến xung đột quân sự tại Trung Đông và quỹ đạo giá dầu còn tiềm ẩn nhiều bất định. Trong kịch bản cơ sở của chuyên gia, giả định giá dầu Brent tăng lên 90 USD/thùng trong quý 2/2026 trước khi giảm về quanh 80 USD/thùng cuối năm 2026, tác động lên lạm phát và tăng trưởng của Việt Nam dự kiến ở mức vừa phải.
Dựa trên kinh nghiệm năm 2022, khi giá dầu từng tăng lên 128 USD/thùng sau xung đột Nga-Ukraine, UOB ước tính mỗi mức tăng 10 USD của giá Brent làm CPI tăng thêm 0,3-0,4 điểm %, với độ trễ 2-3 tháng. Đối với GDP, tác động làm giảm tăng trưởng khoảng 0,6-0,9 điểm %, với độ trễ 2-4 quý. "Với sự phức tạp và khó đoán của tình hình địa chính trị, NHNN nhiều khả năng sẽ giữ lập trường thận trọng, chờ thêm tín hiệu rõ ràng từ dữ liệu kinh tế", ông nhận định.
Dư địa giảm giá của VND hạn chế
Đồng VND đã điều chỉnh giảm một phần mức tăng đạt được trong tháng 1 trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng, với tỷ giá USD/VND tăng trở lại quanh 26.200 (ngày 3/3), từ mức đáy gần 25.900 (ngày 10/2). Phù hợp với xu hướng chung của khu vực, tâm lý “né tránh rủi ro” trên thị trường toàn cầu nhiều khả năng sẽ tiếp tục gây áp lực lên VND trong ngắn hạn. Tuy nhiên, dư địa giảm thêm của VND được đánh giá là không lớn, khi tỷ giá hiện tại đã tiến sát đến giới hạn dưới trong biên độ điều hành của NHNN.

Xét trong trung hạn, ngoài những tác động trước mắt từ những yếu tố địa chính trị, triển vọng của đồng VND nhìn chung vẫn ổn định. Các yếu tố hỗ trợ chính bao gồm nền tảng vĩ mô vững chắc của Việt Nam, thể hiện qua dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 ở mức 7,5% của UOB, cùng với dòng vốn FDI duy trì khả quan, kỳ vọng NHNN giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% trong suốt năm 2026, cũng như triển vọng Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi vào tháng 9/2026.
Nhân định về xu hướng tỷ giá, ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam cho biết: “Chúng tôi đang dự báo đồng USD sẽ yếu đi trong các quý tiếp theo của năm 2026 với chỉ số DXY có thể giảm từ mức 99 hiện nay xuống 97,6 vào quý 3 và 96,7 vào quý 4 năm 2026. Tuy nhiên trong ngắn hạn là quý 2 năm 2026, với các rủi ro biến động đặc biệt từ chiến tranh đang diễn ra tại Trung Đông, các nhà đầu tư đang tiếp tục nắm giữ USD như một tài sản an toàn hàng đầu. Chúng tôi nhấn mạnh quan điểm các thị trường toàn cầu sẽ tiếp tục biến động mạnh trong thời gian tới và phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến chiến tranh tại Trung Đông.
Nếu chiến tranh tiếp tục leo thang, giá dầu thế giới tăng vọt, rủi ro của các loại tài sản gia tăng khó lường thì hoàn toàn có thể xảy ra các xu hướng đảo chiều cho các dự báo. Hiện nay chúng tôi đang dự báo tỷ giá USD/VND sẽ có mức biến động khoảng 2-3% trong năm 2026 với mức tỷ giá là 26.400 trong quý 2, 26.200 trong quý 3 và 26.100 vào cuối năm 2026.”
Chia sẻ thêm về lãi suất, ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam cho hay, lãi suất VND đã tăng từ quý 3/2025 trên cả thị trường liên ngân hàng và thị trường huy động vốn tại các ngân hàng thương mại, với mức tăng 1%-2% tùy các kỳ hạn khác nhau. Diễn biến này đến từ nhu cầu tín dụng ở mức cao trên thị trường đóng góp vào tăng trưởng GDP ở mức 8% cho cả năm 2025.
Ngoài ra các yếu tố khác cũng tác động vào thanh khoản VND như các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng mạnh trên thị trường chứng khoán trong năm 2025 và cả những tháng đầu năm 2026; và đây là dòng vốn thực ra khỏi thị trường. Các chính sách siết chặt quản lý doanh thu kinh doanh hộ gia đình và cá nhân bước đầu cũng tác động đến lượng tiền duy trì tại hệ thống ngân hàng và sẽ cần thêm thời gian để bước chuyển tiếp này hài hòa hơn. Kỳ vọng giải ngân đầu tư công để lượng tiền thật quay lại nền kinh tế cũng còn gặp khó khăn.
"Tất cả các yếu tố trên đều đang tác động đến thanh khoản VND trên thị trường. Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thấy Cơ quan quản lý luôn bám sát thị trường và can thiệp liên tục, hữu hiệu quả các kênh sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ khác nhau", ông Quang nhận định.