Một "chìa khóa" quan trọng để các hoạt động huy động vốn khổng lồ của doanh nghiệp từ nay đến 2030 có thể thành công, vẫn là động lực kích thích dòng vốn.
Trong bối cảnh ngắn hạn, triển vọng dòng vốn ngoại có thể chưa lập tức quay trở lại mạnh mẽ, (cho tới thời điểm nâng hạng chính thức) thị trường vẫn có những yếu tố bù đắp quan trọng để giải quyết bài toán hấp thụ lượng chào bán cổ phần và phát hành lớn trong thời gian tới. Nhìn nhận một cách toàn diện, có ba động lực chính cho dòng vốn dựa trên cơ cấu của nhà đầu tư và hai động lực đến từ yếu tố vĩ mô, doanh nghiệp.

3 động lực hấp thụ vốn
Động lực đầu tiên đến từ nhóm nhà đầu tư cá nhân trong nước. Thực tế, nhà đầu tư cá nhân trong nước vẫn đang chiếm một tỷ trọng lớn. Dù tương đối nhiều trong số đó là nhóm nhà đầu tư lướt sóng và chỉ xác định các khoản đầu tư ngắn hạn, nhưng một điểm sáng là chính nhờ nhóm này, các doanh nghiệp có thể huy động nguồn vốn trung gian thay vì chỉ huy động vốn trực tiếp từ cổ phiếu.
Khi cổ phiếu của doanh nghiệp được nhà đầu tư cá nhân chú ý và giao dịch nhiều, điểm tín dụng và thanh khoản của cổ phiếu sẽ tăng lên. Từ đó, doanh nghiệp có thể huy động vốn thông qua hai kênh: vay nợ từ ngân hàng với tài sản đảm bảo là cổ phiếu, hoặc phát hành trái phiếu với tài sản đảm bảo cũng bằng cổ phiếu. Đây chính là một kênh huy động vốn gián tiếp thông qua thanh khoản. Thêm vào đó, hiện đã có nhiều nhà đầu tư cá nhân chuyển đổi tư duy sang đầu tư dài hạn. Chính vì thế, đây là một nguồn huy động vốn tương đối ổn định cho các doanh nghiệp trong giai đoạn tới.
Động lực thứ hai đến từ nhóm tổ chức trong nước. Quan sát từ tháng 6 năm 2025 có thể thấy, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức trong nước đã tăng lên đáng kể so với lịch sử. Động lực này xuất phát từ việc các doanh nghiệp hiện đang nỗ lực tối ưu hóa dòng vốn nhàn rỗi. Thông thường, nguồn vốn nhàn rỗi không dùng đến sẽ được gửi ngân hàng, nhưng trong bối cảnh mặt bằng lãi suất thời gian qua tuy có nhích lên nhưng vẫn kém hấp dẫn hơn so với các kênh khác, doanh nghiệp bắt buộc phải tìm đến các bến đỗ sinh lời tốt hơn, đặc biệt là kênh chứng khoán. Nhu cầu tăng hiệu quả sử dụng vốn (ROE) qua việc đầu tư trên thị trường chứng khoán vô hình trung đã cung cấp một dòng tiền lớn cho các hoạt động IPO.
Động lực thứ ba là dư địa quay trở lại của nhóm nhà đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ sở hữu của khối ngoại tính theo giá trị vốn hóa hiện đang sụt giảm, lùi về mức đâu đó khoảng 12%. Điều này đồng nghĩa với việc dư địa để họ tăng tỷ lệ sở hữu trở lại là rất dồi dào. Nhớ lại thời điểm trước năm 2018, thị trường từng lo ngại việc "room" ngoại không còn nhiều khi tỷ lệ sở hữu vọt lên 22% tổng quy mô thị trường; lúc đó người ta đặt dấu hỏi về việc khối ngoại thiếu "hàng" để mua. Nhưng hiện nay, khi tỷ lệ sở hữu đã giảm xuống dưới 12%, tỷ lệ room còn lại có thể nói là bao la.
Ngoài ba động lực từ cơ cấu nhà đầu tư kể trên, còn có hai động lực vĩ mô khác. Trước hết là động lực từ định hướng thúc đẩy phát triển thị trường vốn. Các nghị quyết được Chính phủ ban hành thời gian gần đây đã nhấn mạnh vai trò của công cụ thị trường vốn. Nếu như trước đây kênh này ít được quan tâm đúng mức, thì hiện nay, các Nghị quyết của Bộ Chính trị cũng như các quyết sách của Chính phủ đều đã đặt thị trường vốn vào một vị thế và vai trò cụ thể – là một trong những công cụ trọng yếu đóng góp vào mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trên 10% từ nay đến năm 2030.
Cuối cùng, động lực thiết thực nhất đến từ chính bản thân doanh nghiệp. Trước đây, việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng khá dễ dàng, nhưng hiện tại khả năng tiếp cận đã không còn như trước, doanh nghiệp cũng không còn nhiều tài sản để làm tài sản đảm bảo. Lối thoát tối ưu nhất của họ lúc này là huy động trên thị trường vốn, và đây là một lực đẩy tự nhiên vô cùng mạnh mẽ cho các hoạt động IPO.
Các điều kiện vĩ mô bao gồm bối cảnh thị trường trước triển vọng nâng hạng theo chuẩn FTSE Russell chính thức có hiệu lực vào tháng 9 tới, và các nỗ lực để sớm thúc đẩy đạt chuẩn MSCI trước 2030 mà chúng tôi dự báo sớm nhất vào 2027, Việt Nam có thể vào danh sách theo dõi của chỉ số này; Cùng với đó, tăng trưởng kinh tế tích cực, chính sách tiền tệ đã khéo léo giải quyết những áp lực và dư địa hẹp của hệ thống để tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng; Song song là chu kỳ thúc đẩy đầu tư hạ tầng kiến tạo nền cho tăng trưởn... Những yếu tố này là đòn bẩy cho động lực khơi thông dòng vốn và nâng kỳ vọng tăng khả năng hấp thụ của nhà đầu tư.
Điều kiện để hiện thực hóa cơ hội
Cơ hội huy động vốn trên thị trường là rất rõ ràng, nhưng để chuyển hóa thành hiện thực, cần có sự hội tụ của cả điều kiện cần và điều kiện đủ.

Về điều kiện cần, nền kinh tế cơ bản đã đáp ứng được. Hiện nay, Chính phủ đang tích cực thúc đẩy thị trường vốn thông qua các cơ chế kỹ thuật nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng huy động. Sự hỗ trợ từ phía Chính phủ lúc này là rất lớn và mạnh tay, thể hiện qua việc tái cấu trúc thị trường và tháo gỡ các rào cản pháp lý một cách vô cùng nhanh chóng.
Tuy nhiên, điều kiện đủ lại phụ thuộc phần lớn vào bản thân các doanh nghiệp. Cần phải nhìn nhận một cách sòng phẳng rằng: để huy động được vốn trên thị trường, doanh nghiệp phải hoạt động kinh doanh một cách tử tế, đàng hoàng và minh bạch nhằm tạo dựng niềm tin vững chắc với nhà đầu tư. Nếu doanh nghiệp gọi vốn nhưng vẫn vận hành theo mô hình gia đình trị thiếu chuyên nghiệp như trước đây, hoặc có dòng tiền không rõ ràng, thì không một nhà đầu tư nào dám xuống tiền.
Do đó, tôi cho rằng yếu tố cốt lõi để các nhà đầu tư sẵn sàng rót vốn chính là sự minh bạch; và đây cũng là điều kiện đủ, quan trọng nhất để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong dài hạn.