Những biến động gần đây trên thế giới, đặc biệt là xung đột tại khu vực Trung Đông, đang đặt ngành hàng không toàn cầu trước một thử thách rất lớn.
Trong bối cảnh ngành hàng không toàn cầu đang đối mặt với khủng hoảng nhiên liệu do xung đột địa chính trị tại Trung Đông, vai trò kiến tạo, dẫn dắt và đồng hành của các cơ quan quản lý Nhà nước đang được nhìn nhận đóng một vai trò quan trọng đối với các hãng bay.
"Tôi có thể khẳng định là Nhà nước, các bộ ngành và nhà chức trách hàng không Việt Nam đã và đang phản ứng rất nhanh nhạy, kịp thời, thể hiện trách nhiệm và sự đồng hành cùng các doanh nghiệp chủ động ứng phó, giảm nhẹ thiệt hại trước những biến động khắc nghiệt của thị trường", Phó Tổng giám đốc Bamboo Airways Võ Huy Cường nói, khi đánh giá về giai đoạn đầy thách thức hiện nay đối với ngành hàng không.

- Nhìn lại giai đoạn sau đại dịch Covid-19 đến nay, ông đánh giá như thế nào về vai trò của Nhà nước trong quá trình phục hồi của ngành hàng không Việt Nam ?
Những năm vừa qua, ngành hàng không Việt Nam đã trải qua một giai đoạn vô cùng đặc biệt. Đại dịch Covid-19 bùng phát từ năm 2020 và kéo dài hơn hai năm đã ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động hàng không trên toàn thế giới, khiến các hãng phải đối mặt với những khó khăn chưa từng có tiền lệ.Nhu cầu đi lại sụt giảm mạnh, nhiều quốc gia đóng cửa biên giới, thực hiện giãn cách xã hội để ngăn chặn lây lan dịch bệnh, các chuyến bay quốc tế gần như dừng hẳn trong một thời gian dài. Các hãng hàng không phải tiến hành tái cấu trúc, tìm kiếm nhiều giải pháp khác nhau để duy trì hoạt động và từng bước khôi phục.
Nhưng trong bối cảnh đó, rất may mắn và đáng mừng là không một hãng hàng không Việt Nam nào lâm vào tình cảnh phá sản. Giai đoạn hậu Covid-19, thị trường còn ghi nhận sự xuất hiện của những hãng mới tham gia vào thị trường vận tải hàng không. Đây rõ ràng là một tín hiệu tích cực, phản ánh tiềm năng của hàng không Việt Nam cũng như niềm tin của các nhà đầu tư đối với triển vọng phát triển của ngành.
Để đạt được kết quả đó, không thể không nhắc đến sự chỉ đạo, kiến tạo và đồng hành rất sát sao của Đảng, Quốc hội, Chính phủ cùng các bộ, ngành liên quan.
Một dấu mốc quan trọng là việc Quốc hội thông qua Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Luật mới đã thể hiện nhiều tư duy đổi mới, tạo nền tảng pháp lý thuận lợi hơn để ngành hàng không phát triển trong giai đoạn mới của đất nước.
Nhờ những định hướng và chính sách kịp thời của nhà chức trách, thị trường hàng không Việt Nam đã phục hồi nhanh chóng. Năm 2023 ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường khách nội địa. Năm 2024 đến lượt thị trường khách quốc tế tăng vọt.
Và năm 2025, ngành hàng không Việt Nam đã vận chuyển 83,5 triệu lượt hành khách, mức cao nhất từ trước đến nay, vượt qua cả đỉnh sản lượng khai thác trước Covid (năm 2019).
- Đại dịch đi qua, thì thách thức khác lại đến. Tình hình địa chính trị thế giới liên tiếp bất ổn, từ chiến tranh Nga - Ukraine và giờ là xung đột Iran – Mỹ và Israel. Ông cho rằng mức độ tác động của tình hình này ra sao?
Tôi nghĩ những biến động gần đây trên thế giới, đặc biệt là xung đột tại khu vực Trung Đông, đang đặt ngành hàng không toàn cầu trước một thử thách rất lớn và chưa có tiền lệ. Theo đánh giá của tôi, tác động của cuộc khủng hoảng này đến nhanh, ngay lập tức, sâu rộng và nặng nề hơn bội phần so với ảnh hưởng của giai đoạn Covid.
Bởi lẽ trong thời Covid, nhu cầu đi lại giảm mạnh do các quốc gia đóng cửa biên giới và hạn chế di chuyển. Tuy nhiên, chuỗi cung ứng toàn cầu không bị đứt gãy. Các hãng hàng không vẫn có thể linh hoạt chuyển đổi phần lớn đội tàu bay sang vận chuyển hàng hóa, khai thác khoang bụng và trên khoang hànhkhách của tàu bay, tạo thành một tiền lệ độc đáo. Đây là nguồn doanh thu quan trọng giúp các hãng duy trì hoạt động trong ranh giới mong manh giữa tồn tại và phá sản.
Còn trong bối cảnh chiến sự hiện nay, rủi ro lớn nhất lại nằm ở nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng nhiên liệu hàng không.
Khu vực Trung Đông vốn là trung tâm cung ứng năng lượng của thế giới và đồng thời là điểm kết nối quan trọng giữa các tuyến bay châu Á và châu Âu và hai châu lục này với Trung Đông-Vùng Vịnh. Khi xung đột xảy ra, nhiều tuyến bay phải thay đổi hành trình hoặc tạm dừng khai thác vì lý do an toàn.
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến vận chuyển hành khách mà còn tác động trực tiếp đến vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, tạo ra sự đứt gãy cực kì lớn, đột ngột và chưa thể dự báo thời điểm kết thúc.
Thiệt hại lớn nữa là nguy cơ không còn nguồn cung của nhiên liệu hàng không (bao gồm cả Jet-A1, SAF). Giá sẽ biến động bất thường theo xu hướng tăng đột biến. Nếu như xung đột Vùng Vịnh tiếp tục kéo dài, có lẽ chỉ trong vài ba tuần, nguồn nhiên liệu hàng không phục vụ cho các hoạt động vận chuyển hàng không thương mại có thể thiếu hụt lớn. Khi đó, các hãng hàng không có thể phải đối mặt với hai kịch bản rất khó khăn.
Thứ nhất là nguồn cung nhiên liệu suy giảm nghiêm trọng, trừ nguồn dự trữ làm nhiệm vụ quốc phòng và ứng phó thảm họa thiên tai.
Thứ hai, khả quan hơn, là nếu vẫn duy trì được nguồn cung nhiên liệu, thì giá cũng tăng vọt do nguồn cung khan hiếm, giành giật các lô hàng hiếm hoi khiến chi phí khai thác tăng mạnh và gây áp lực rất lớn lên sức khoẻ tài chính của các hãng hàng không.
Trong cả hai trường hợp, các hãng hàng không đều chịu thiệt hại to lớn. Khi tàu bay phải nằm sân, doanh nghiệp vẫn phải chi trả các chi phí bảo dưỡng, bảo trì, nhân lực… trong khi doanh thu gần như không có. Hãng càng nhiều tàu bay thì thiệt hại càng lớn.
Điều này không chỉ ảnh hưởng tới các hãng hàng không mà còn tác động tới toàn bộ hệ sinh thái hàng không, bao gồm sân bay, quản lý bay và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không, phi hàng không tại các cảng hàng không.
Không có doanh nghiệp hàng không nào "may mắn" trong "bi kịch" toàn cầu này.

- Trước nguy cơ lớn này, các cơ quan quản lý Nhà nước đã có những phản ứng chính sách như thế nào để hỗ trợ doanh nghiệp hàng không, theo góc nhìn của ông?
Tôi có thể khẳng định là Nhà nước, các bộ ngành và nhà chức trách hàng không Việt Nam đã và đang phản ứng rất nhanh nhạy, kịp thời, thể hiện trách nhiệm và sự đồng hành cùng các doanh nghiệp chủ động ứng phó, giảm nhẹ thiệt hại trước những biến động khắc nghiệt của thị trường.
Ngay khi xuất hiện nguy cơ thiếu hụt nhiên liệu hàng không, Cục Hàng không Việt Nam đã chủ động tổ chức một “Hội nghị Diên Hồng” với các doanh nghiệp trong ngành để đánh giá tình hình, xác định đúng, đủ các khó khăn, nguy cơ, tổng hợp các kiến nghị, giải pháp ứng phó kịp thời.
Trên cơ sở đó, nhiều giải pháp được các doanh nghiệp triển khai ngay, đồng bộ, các đề xuất quan trọng khác đã được báo cáo lên Bộ Xây dựng và Chính phủ để có các quyết định điều hành và chỉ đạo kịp thời.
Một trong những chính sách đáng chú ý là việc giảm thuế nhập khẩu nhiên liệu hàng không từ các nguồn ngoài ASEAN xuống 0% và đã được chính thức áp dụng từ 9/3/2026. Đây là một giải pháp rất thiết thực nhằm mở rộng nguồn cung nhiên liệu và giảm bớt áp lực chi phí cho các hãng hàng không trong bối cảnh giá dầu tăng cao.
Bên cạnh đó, Cục Hàng không Việt Nam cũng đề xuất Chính phủ xem xét áp dụng phụ thu nhiên liệu trong giá vé máy bay. Đây được xem là một cơ chế linhhoạt giúp các hãng hàng không có thêm dư địa để cân đối chi phí khai thác trong giai đoạn giá nhiên liệu biến động mạnh.
Hiện nay, giá vé máy bay nội địa chịu sự quản lý và điều tiết của cơ chế giá trần để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Mức giá này đang được áp dụng theo Thông tư số 44/2024/TT-BGTVT ban hành từ 15/11/2024. Trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động, việc xem xét điều chỉnh khung giá trần để phù hợp hơn với thực tế cũng là vấn đề cần được nghiên cứu.
Trong Luật Hàng không dân dụng mới năm 2025, nguyên tắc quản lý giá trần đã được quy định theo hướng linh hoạt hơn, cho phép “thực hiện theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phù hợp với biến động của thị trường”.
Do đó, các điều chỉnh khung giá trần theo sát biến động thực tế là cần thiết và hoàn toàn hợp lý. Đây sẽ là một trong những công cụ điều hành quan trọng giúp doanh nghiệp hàng không giảm bớt áp lực chi phí trong giai đoạn khó khăn.
- Ngoài các giải pháp ngắn hạn, ông đánh giá như thế nào về vai trò của Nhà nước trong việc phát triển hệ sinh thái hàng không Việt Nam trong dài hạn?
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển của ngành hàng không chắc chắn không chỉ thể hiện ở các chính sách hỗ trợ trước mắt, mà còn ở những định hướng chiến lược trong dài hạn.
Những năm qua, Chính phủ đã rất quan tâm tới việc đầu tư và nâng cấp cơ sở hạ tầng hàng không, đặc biệt là hệ thống cảng hàng không và hệ thống quản lý bay dân dụng.
Một điểm đặc biệt khác là chủ trương khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia sâu hơn vào ngành hàng không. Nghị quyết 68 của Đảng đã tạo điều kiện thuận lợi để khu vực ngoài quốc doanh tham gia đầu tư vào nhiều lĩnh vực của ngành, từ bảo dưỡng tàu bay, cung cấp nhiên liệu hàng không, suất ăn hàng không cho tới đầu tư hạ tầng sân bay.
Trên thực tế, chúng ta đã chứng kiến sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của các doanh nghiệp tư nhân trong chuỗi cung ứng hàng không. Nhiều dự án hạ tầng sân bay mới như Long Thành, Gia Bình, Vân Đồn, Phú Quốc hay Quảng Trị, Phan Thiết… đang mở ra những cơ hội phát triển mới cho ngành. Sự hình thành một hệ sinh thái hàng không đa dạng với sự tham gia của cả khu vực nhà nước và tư nhân đảm bảo nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng không Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện để Việt Nam từng bước trở thành một điểm đến có sức cạnh tranh trong khu vực, cạnh tranh ngang hàng với các trung tâm hàng không lớn trong khu vực.
- Với riêng Bamboo Airways, sự đồng hành của các cơ quan quản lý Nhà nước có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh hiện nay?
Là một hãng hàng không tư nhân ra đời sau hơn một thập kỷ ngành hàng không Việt không có gương mặt mới, khi Bamboo Airways đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh thì đại dịch bùng phát, và hiện nay Hãng tiếp tục đối mặt với những biến động lớn chưa từng có của thị trường năng lượng toàn cầu.
Nhưng chính những giai đoạn nhiều biến động trong quá khứ đã rèn luyện Bamboo Airways trở thành một hãng hàng không có khả năng thích ứng, bền bỉ, kiên định với mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn.
Trong bối cảnh chung hiện nay, sự kiến tạo, đồng hành của các cơ quan quản lý Nhà nước luôn có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngành hàng không. Những chính sách hỗ trợ kịp thời như giảm thuế nhập khẩu nhiên liệu, cho phép phụ thu nhiên liệu hay tạo điều kiện về cơ chế thị trường đã giúp các hãng hàng không, trong đó có Bamboo Airways, có thêm dư địa để duy trì hoạt động.
Bên cạnh những nỗ lực nội tại, Bamboo Airways đã tích cực, chủ động đề xuất các giải pháp chính sách với các cơ quan quản lý, không chỉ vì lợi ích của riêng hãng mà còn vì sự phát triển chung của toàn ngành hàng không. Ví dụ như các kiến nghị liên quan đến việc bình ổn quỹ ngoại tệ, mở rộng nguồn nhập khẩu nhiên liệu hay hoàn thiện cơ chế giá trần trên các đường bay nội địa, giảm thuế...
Chúng tôi tin rằng với sự đồng hành của Nhà nước, cùng với nỗ lực tự thân của doanh nghiệp, ngành hàng không Việt Nam sẽ có đủ năng lực, tinh thần kiến tạo cơ hội từ trong khó khăn để vượt qua những thách thức hiện nay, tiếp tục đóng góp tích cực cho sự phát triển của du lịch, thương mại và nền kinh tế đất nước.
- Trân trọng cảm ơn ông!