Nếu thiếu lớp kỹ sư giỏi, ví dụ như thiết kế vi mạch hay hệ thống nhúng, Việt Nam sẽ chỉ dừng lại ở câu chuyện gia công, khó bước lên nấc thang giá trị cao hơn.
Công nghệ cao, đơn cử như trí tuệ nhân tạo (AI), đang thay đổi sâu rộng thị trường lao động. Ông Trần Ngọc Anh – nhà sáng lập Sáng kiến Việt Nam – cho biết, báo cáo của OpenAI cho thấy các mô hình tiên tiến đã làm tương đương với một người chuyên gia có 14 năm kinh nghiệm, và trên thực tế, một số doanh nghiệp cho biết AI đã làm được khoảng 40 đến 50% số lượng các công việc làm hiện nay. Điều này đòi hỏi người Việt phải nhanh chóng học tập để nắm được những kỹ năng cao, đi vào kỷ nguyên công nghệ cao một cách thành công và hiệu quả.

Để đáp ứng nhu cầu phát triển này, theo bà Lê Thái Hà - Giám đốc điều hành Quỹ VinFuture – thì Việt Nam cần tập trung vào các cụm nhân lực chiến lược gắn với các chiến lược quốc gia. Các lĩnh vực công nghệ cao đang đòi hỏi nguồn nhân lực mạnh mẽ bao gồm trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu và hạ tầng tính toán.
Việt Nam đã có chiến lược quốc gia về AI đến năm 2030, đặt mục tiêu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và phát triển giải pháp AI trong ASEAN. Điều này đòi hỏi nhân lực mạnh mẽ về AI nền tảng và các ứng dụng như thị giác máy tính, xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) tiếng Việt, an ninh mạng và an toàn dữ liệu.
Song song với đó, nhân lực về bán dẫn và hệ thống nhúng (embedded system) được coi là trọng tâm để vươn lên nấc thang giá trị cao hơn. Việc các tập đoàn lớn như Qualcomm đã mở trung tâm R&D AI tại Việt Nam cho thấy Việt Nam đã nằm trên “radar” của chuỗi giá trị công nghệ cao. Tuy nhiên, nếu thiếu lớp kỹ sư giỏi thiết kế vi mạch hay hệ thống nhúng, Việt Nam sẽ chỉ dừng lại ở câu chuyện gia công, khó bước lên nấc thang giá trị cao hơn.
Chiến lược phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2030 đã xếp công nghệ sinh học, y dược, và vật liệu mới vào nhóm ưu tiên. Ngoài ra, nhân lực cho đô thị bền vững và hạ tầng xanh, bao gồm chuyên gia về quy hoạch năng lượng đô thị, lưới điện thông minh, vật liệu và công nghệ xây dựng xanh cũng rất quan trọng.
Trong hệ sinh thái, các quỹ khoa học có tác dụng giúp nâng hạng hình ảnh khoa học của cả quốc gia. Những giải thưởng khoa học quốc tế uy tín sẽ vô hình trung kéo chuẩn mực lên cao hơn và thúc đẩy các viện trường nâng cao chất lượng nhân lực để đủ sức cạnh tranh.
Các quỹ giúp làm một hạ tầng mềm để kết nối Việt Nam với mạng lưới những nhà khoa học tinh hoa của quốc tế, tạo cơ hội cho các trường đại học và doanh nghiệp trong nước kết nối, hợp tác và thiết lập phòng thí nghiệm chung. Các quỹ cũng sẽ đầu tư có mục tiêu vào thế hệ trẻ và những nhóm nghiên cứu chiến lược mũi nhọn, biến giải thưởng thành dòng vốn tri thức lâu dài chảy về Việt Nam.
Để thu hút nhân lực chất lượng cao toàn cầu, sự kết nối với các trung tâm lớn như Mỹ hay Trung Quốc là rất quan trọng. Ông Trần Ngọc Anh cho rằng Việt Nam cần tận dụng đội ngũ người gốc Việt trình độ cao đang làm việc ở các tập đoàn lớn, những người luôn hướng về Việt Nam và sẵn sàng tham gia giảng dạy hoặc mở các startup sử dụng kỹ sư Việt Nam.
Việc cải thiện trải nghiệm sống cho nhân tài quốc tế, bao gồm dịch vụ y tế, trường học, và khả năng sử dụng tiếng Anh của khung hành chính công, là yếu tố mềm quan trọng để nhân tài cảm thấy họ và gia đình có thể sống lâu dài. “Nếu có thể làm tốt cả chính sách ‘cứng’ và các yếu tố ‘mềm’, Việt Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh trong cuộc đua nhân tài toàn cầu”, bà Thái Hà nhận định.
Cuối cùng, cần chú trọng đến một lớp nhân sự mỏng nhưng rất quan trọng, đó là nhân lực cầu nối, là những người làm cầu nối về chính sách, quản trị đổi mới sáng tạo và tài chính khoa học công nghệ. Nhân lực cầu nối giúp hệ sinh thái, nơi có nhiều bên liên quan như nhà quản lý chính sách, nhà khoa học và doanh nghiệp, có thể nói chuyện được với nhau, phá thế cô lập của từng cấu phần. “Họ giúp mang những ý tưởng từ các nhà khoa học để doanh nghiệp hiểu nhu cầu và triển khai thực tế, đồng thời giúp nhà quản lý hiểu khó khăn của nhà khoa học để tạo cơ chế thuận lợi cho nghiên cứu khoa học”, bà Thái Hà cho biết.