Việc Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến 2050 là một dấu mốc rất quan trọng đối với nền kinh tế.
Đây là chia sẻ của ông Nguyễn Văn Hùng – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn CNCTech với Diễn đàn Doanh nghiệp.

- Trong năm 2025, Chính phủ đã ban hành Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam 2025-2035, tầm nhìn 2050. Ông đánh giá sao về chiến lược này?
Việc Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến 2050 vào ngày 9/10/2025 là một dấu mốc rất quan trọng đối với nền kinh tế, đặc biệt đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics.
Theo đó, lần đầu tiên, logistics được đặt trong một chiến lược quốc gia với tầm nhìn dài hạn, rõ ràng và đầy kỳ vọng.
Điều khiến chúng tôi đặc biệt hân hoan là tinh thần của Chiến lược này hướng đến xây dựng năng lực logistics quốc gia - coi logistics là hạ tầng mềm then chốt, gắn liền với chiến lược công nghiệp, thương mại, đầu tư, kinh tế số và cả chuyển đổi xanh.
Đối với doanh nghiệp logistics, đây là nguồn động lực để chúng tôi tăng thêm niềm tin, đầu tư mạnh mẽ hơn, đổi mới nhanh hơn, và đồng hành sâu sát hơn trong hành trình nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của ngành logistics.
- Theo ông, để từng bước đưa logistics Việt Nam ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp trong ngành cần làm gì?
Việt Nam có khoảng 90% doanh nghiệp logistics là nội địa, nhưng chỉ nắm giữ khoảng 30% thị phần. Các doanh nghiệp nước ngoài đang chiếm ưu thế ở dịch vụ logistics quốc tế và dịch vụ tích hợp. Điều đó cho thấy chúng ta đang phải cạnh tranh ngay trên chính thị trường của mình, và nếu không nâng tầm, doanh nghiệp Việt rất dễ bị lép vế ngay trên sân nhà.
Dù có nhiều tiến bộ nhưng chi phí logistics tại Việt Nam vẫn khá cao, chiếm khoảng 16-18% GDP, trong khi các nước ASEAN khác có chi phí thấp hơn đáng kể: Singapore khoảng 8,5%, Thái Lan 10,3%, Malaysia 15,4%.

Các tập đoàn logistics quốc tế đã đi rất xa, với mô hình tích hợp hạ tầng - vận tải - kho bãi - công nghệ - dữ liệu, từ đó vừa giảm chi phí, vừa tăng chất lượng dịch vụ và độ tin cậy. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp logistics Việt Nam vẫn hoạt động ở quy mô vừa và nhỏ, tính liên kết chưa cao, cung cấp các dịch vụ đơn lẻ, giá trị gia tăng chưa cao.
Hành trình đưa doanh nghiệp logistics Việt Nam vươn ra thế giới rất cần vai trò tiên phong dẫn dắt của các doanh nghiệp có quy mô lớn và uy tín trong ngành, trên nền tảng các năng lực then chốt: Thứ nhất, năng lực đầu tư và tích hợp - đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng logistics, chuyển đổi từ dịch vụ đơn lẻ sang chuỗi, kết nối hạ tầng, vận tải, kho bãi, thương mại và công nghệ thành giải pháp tổng thể.
Thứ hai, năng lực công nghệ và dữ liệu - logistics thế hệ mới cần phát triển dựa trên nền tảng số, như dữ liệu thời gian thực, khả năng dự báo, tối ưu hóa hành trình, tự động hóa quy trình, quản trị năng lực toàn mạng lưới, hoàn thiện giải pháp quản trị chuỗi logistics thông minh.
Thứ ba, năng lực kết nối thị trường quốc tế - tham gia sâu vào những nhóm dịch vụ cốt lõi của logistics toàn cầu, như logistics tích hợp, logistics thương mại điện tử xuyên biên giới, dịch vụ cước vận chuyển quốc tế, các giải pháp điều phối chuỗi cung ứng dựa trên công nghệ và dữ liệu.
- Để thúc đẩy ngành logistics phát triển bền vững, tự tin vươn “biển lớn”, ông có đề xuất, kiến nghị gì?
Để thúc đẩy ngành logistics phát triển bền vững trong thời gian tới, chúng tôi kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ và các bộ ngành, địa phương cần xây dựng quy hoạch trung tâm logistics tại các vùng kinh tế trọng điểm, đồng bộ với quy hoạch công nghiệp, cảng và cửa khẩu, tránh phân tán trung tâm logistics quốc gia và ICD gây lãng phí, và bất cập.
Bên cạnh đó, cần xây dựng tiêu chí phân hạng, phân loại trung tâm logistics; thống nhất chức năng, phạm vi và mô hình hoạt động trung tâm logistics hiện đại theo quy hoạch và pháp luật liên ngành. Đồng thời, huy động và đẩy mạnh hợp tác công tư đầu tư phát triển hạ tầng như cảng biển, sân bay, đường sắt, dịch vụ bổ trợ hàng không để nâng cao năng lực liên thông.
Ngoài ra, cần có những chính sách cụ thể, thiết thực nhằm khuyến khích các doanh nghiệp tiên phong ứng dụng logistics số, logistics xanh và tiến ra thị trường nước ngoài; khuyến khích phát triển nguồn nhân lực logistics chất lượng cao phục vụ nhu cầu logistics tích hợp và toàn cầu hóa.
- Trân trọng cảm ơn ông!