Đó là đánh giá của chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển tại Diễn đàn “Doanh nghiệp 2026: Doanh nghiệp Việt Nam trên bản đồ kinh tế toàn cầu - Đổi mới để bứt phá”.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tái cấu trúc, cạnh tranh chiến lược gia tăng và chuỗi cung ứng dịch chuyển mạnh mẽ, doanh nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới để thích ứng và bứt phá, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức “Diễn đàn doanh nghiệp 2026: Doanh nghiệp Việt Nam trên bản đồ kinh tế toàn cầu đổi mới để bứt phá” nhằm tìm kiếm những cơ hội, chia sẻ những giải pháp từ thực tiễn doanh nghiệp.

Tham dự Diễn đàn có ông Võ Tân Thành – Phó Chủ tịch VCCI; ông Nguyễn Đức Lệnh – Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh Khu vực 2; ông Nguyễn Ngọc Hòa - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM (HUBA); ông Đinh Hồng Kỳ - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Xanh TP HCM; Tiến sĩ Giản Tư Trung - Chủ tịch sáng lập Học viện Quản lý PACE, Viện trưởng Viện Giáo dục IRED; TS Đinh Thế Hiển, Chuyên gia Kinh tế; ông Phan Minh Thông - Chủ tịch Tập đoàn Phúc Sinh…
Về phía đơn vị tổ chức Diễn đàn có sự tham dự của Nhà báo Phạm Hùng - Phó Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp. Cùng sự tham dự của đại diện các sở ngành, trung tâm xúc tiến đầu tư, thương mại các tỉnh … các chuyên gia từ các viện, trường, cơ quan nghiên cứu, Lãnh đạo các Hiệp hội doanh nghiệp các địa phương, lãnh đạo các doanh nghiệp.
Phát biểu đề dẫn cho phiên thảo luận tại Diễn đàn, Chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển, Viện IIB & VFA Group nhận định, trong tình hình nền kinh tế toàn cầu đang có nhiều biến động, việc nhận diện đúng vị thế và tìm ra con đường để doanh nhân Việt làm chủ chuỗi giá trị không chỉ là bài toán tăng trưởng mà còn là sứ mệnh khẳng định vị thế quốc gia.
Thông tin trên truyền thông đang có sự mâu thuẫn giữa hai sơ đồ dữ liệu hiện nay: một bên cho thấy vị thế của doanh nghiệp Việt đang suy giảm trong chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng một bên khác lại chứng minh doanh số xuất khẩu vẫn liên tục tăng trưởng. Thực tế, điều này phản ánh một thực trạng là các công ty Việt Nam tham gia vào chuỗi của các tập đoàn đa quốc gia như Nike hay Samsung đang gặp khó khăn, trong khi hoạt động xuất khẩu tự thân của các doanh nghiệp nội địa vẫn đang phát triển, dù chưa thực sự tương xứng với tiềm năng.

Ông cho biết, sau hai thập kỷ gia nhập WTO, Việt Nam đã vươn lên nằm trong nhóm 20 quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới với kim ngạch dự kiến đạt 475 tỷ USD vào năm 2025. Mặc dù khối FDI vẫn chiếm tỷ trọng lớn trên 70%, nhưng điểm sáng đáng ghi nhận là sự tăng trưởng thực chất của các doanh nghiệp nội địa, xua tan những góc nhìn bi quan thường thấy trên mặt báo. Tuy nhiên, khi soi chiếu vào chuỗi cung ứng giá trị từ khâu nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng tại các siêu thị quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu vẫn đang dừng lại ở mức số 4, tức là xuất khẩu bán thành phẩm dưới dạng B2B không có thương hiệu.
"Điều này dẫn đến một thiệt thòi lớn về mặt kinh tế bởi ba khâu cuối cùng trong chuỗi giá trị – bao gồm xây dựng thương hiệu và bán lẻ trực tiếp đến tay người tiêu dùng (B2C) – mới là nơi tập trung lợi nhuận khổng lồ, thường chiếm tới 70% hoặc 80% tổng giá trị sản phẩm. Hiện tại, phần lớn doanh nghiệp Việt chỉ đang làm tốt ở bốn khâu đầu tiên và chỉ một số rất ít đơn vị tiến được tới mức có thương hiệu riêng trong giao dịch B2B hoặc đưa sản phẩm trực tiếp vào siêu thị toàn cầu", chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển đánh giá.
Để tiến xa hơn trong chuỗi giá trị này, chuyên gia Đinh Thế Hiển đã chỉ ra năm điểm nghẽn chiến lược mà các doanh nghiệp Việt đang phải đối mặt.
Trước hết là vấn đề nguyên liệu, khi ngay cả ở những ngành thế mạnh như chế biến thực phẩm, sự liên kết giữa nhà sản xuất và người nông dân vẫn còn lỏng lẻo, tình trạng lật kèo hợp đồng diễn ra thường xuyên khiến nguồn cung không ổn định. Đối với các ngành công nghiệp như da giày, may mặc, Việt Nam vẫn phụ thuộc quá lớn vào nguyên liệu nhập khẩu từ Hàn Quốc hay Trung Quốc và chưa thực sự làm chủ được công nghệ nguyên liệu.
Điểm nghẽn thứ hai nằm ở sự thiếu hụt các liên kết tài chính mạnh mẽ; trong khi các tập đoàn quốc tế có hệ thống tài chính riêng để hỗ trợ chuỗi cung ứng thì ở Việt Nam, các doanh nghiệp lớn thường chiếm dụng vốn của các đơn vị cung ứng nhỏ trong thời gian dài, gây đứt gãy sự bền vững. Thêm vào đó, hạ tầng logistics và chi phí vận hành vẫn là gánh nặng thuộc về trách nhiệm điều tiết của Chính phủ. Cuối cùng, hai nút thắt quan trọng nhất thuộc về bản thân doanh nghiệp là việc thiếu can đảm để đầu tư vào xây dựng thương hiệu quốc tế và phát triển sản phẩm đầu cuối do quá vất vả với các khâu sản xuất ban đầu.
Lấy ngành thực phẩm làm ví dụ điển hình cho những ưu thế và thách thức, ông Hiển chỉ ra rằng đây là thị trường có quy mô lên tới 10.000 tỷ USD với nhu cầu tiêu dùng luôn ổn định và tăng trưởng. Việt Nam đang sở hữu những ngành hàng tỷ đô như cà phê đạt gần 10 tỷ USD, thủy sản đạt 4 tỷ USD và trái cây chế biến đạt 3 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng bình quân từ 15% đến 30%. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang ở khúc đầu “khó”, tức là làm những công việc vất vả nhất từ trồng trọt đến sơ chế, trong khi bỏ ngỏ vùng giá trị cao là thương hiệu.

Để thay đổi điều này, chuyên gia cho rằng, bài học từ Thái Lan là một ví dụ đáng suy ngẫm; họ đã thành công trong việc trở thành “bếp ăn của thế giới” nhờ chiến lược bài bản của Chính phủ trong việc quảng bá văn hóa ẩm thực và tài trợ cho các chuỗi nhà hàng Thái tại các đô thị lớn toàn cầu. Từ sự phổ biến của ẩm thực, các sản phẩm đóng gói của Thái Lan mới thâm nhập sâu vào các siêu thị quốc tế, tạo ra những tập đoàn tỷ đô như CP Group hay Thai Union.
Ông cũng cho rằng, sự khác biệt giữa thành công của các nước láng giềng và thực trạng của Việt Nam nằm ở sự phối hợp đồng bộ giữa ba chân kiềng: Nhà nước, Hiệp hội và Doanh nghiệp. Ông Hiển khẳng định rằng Nhà nước không cần phải lo vốn trực tiếp quá nhiều mà nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, tỷ giá và lạm phát. Vai trò then chốt của Chính phủ là xây dựng các trung tâm kiểm định chất lượng uy tín để bảo vệ giá trị của dòng chữ “Made in Vietnam”, đảm bảo không có sự gian lận khiến hàng hóa bị trả về làm tổn hại uy tín quốc gia.
Song song đó, các hiệp hội phải đóng vai trò là người bảo chứng chất lượng, sao cho khi sản phẩm được dán nhãn hiệp hội, người tiêu dùng quốc tế hoàn toàn yên tâm về tiêu chuẩn sản xuất. Một khi có được hai nền tảng vững chắc từ Nhà nước và Hiệp hội, nỗ lực của Hội đồng quản trị và các CEO sẽ là yếu tố quyết định sự bứt phá của doanh nghiệp.
Nhìn lại lịch sử phát triển của nhiều công ty lớn tại Việt Nam, chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển quan sát thấy rằng ưu thế ban đầu hay sự hỗ trợ đặc biệt từ Nhà nước không phải là yếu tố tiên quyết dẫn đến thành công bền vững. Có những doanh nghiệp được trao nhiều lợi thế nhưng lại tụt hậu, trong khi nhiều doanh nhân khởi đầu yếu thế nhưng nhờ tầm nhìn và năng lực lãnh đạo đã đưa công ty vươn lên mạnh mẽ. Điều này khẳng định vai trò tối thượng của người thuyền trưởng, những CEO có đủ quyết tâm và chiến lược để tập hợp nguồn lực tiến công vào những phân khúc giá trị cao.
"Cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam vươn ra biển lớn là rất rộng mở, nhưng nó đòi hỏi một tư duy mới: không chỉ dừng lại ở việc tham gia vào chuỗi cung ứng của người khác mà phải nỗ lực để trở thành người làm chủ chuỗi giá trị của chính mình. Chỉ khi dám tấn công vào các khâu xây dựng thương hiệu và sản phẩm cuối cùng, doanh nhân Việt mới thực sự hoàn thành sứ mệnh trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước", chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển nhấn mạnh.