Đo lường hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo sẽ giúp chính quyền địa phương thay đổi nhận thức, nhận ra được điểm mạnh, điểm yếu từ đó có những hành động chính sách, ưu tiên nguồn lực.

Trên thế giới, các bộ chỉ số đo lường hệ sinh thái đổi mới/hệ sinh thái khởi nghiệp như: Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu - Global Innovation Index (GII), Chỉ số Năng lực cạnh tranh Toàn cầu - Global Competitiveness Index (GCI), Chỉ số Khởi nghiệp Toàn cầu - Global Entrepreneurship Index (GEI), Báo cáo Hệ sinh thái Khởi nghiệp Toàn cầu - Global Startup Ecosystem Report (GSER), Chỉ số Hệ sinh thái Khởi nghiệp Toàn cầu - Global Startup Ecosystem Index của StartupBlink,... được sử dụng phổ biến trong giới học thuật, hoạch định chính sách và doanh nghiệp. Còn Việt Nam đã có những đề xuất xây dựng bộ chỉ số đo lường hệ sinh thái (HST) khởi nghiệp sáng tạo.
Nói về cấp độ trưởng thành HST khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam được chia thành 03 mức. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ở các thành phố lớn (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) đang phát triển mạnh mẽ, với sự xuất hiện của các “kỳ lân” công nghệ, sự gia tăng quỹ đầu tư mạo hiểm, vườn ươm và trung tâm hỗ trợ. Ngoài ra, những thành phố lớn này còn có sự vượt trội về R&D, hạ tầng số, nhân tài... Trong khi đó, các thành phố đang phát triển như Đà Nẵng và Huế nổi lên như những “vườn ươm mới” của Việt Nam, với lợi thế về môi trường sống, chính sách địa phương hỗ trợ và có điểm sáng ở Dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp (vườn ươm, huấn luyện). Còn các tỉnh đang hình thành như như Đắk Lắk, Đồng Tháp, Lai Châu… đã nỗ lực trong cải cách thể chế, thiếu hụt các nguồn lực nền tảng.
Vì vậy, HST khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam được đánh giá phát triển chưa đồng đều. Điểm nghẽn cần tháo gỡ ở các thành phố lớn là chi phí gia nhập thị trường, tín dụng (Hà Nội), tỷ lệ chuyển tri thức thành thương mại. Các thành phố đang phát triển bị hạn chế ở qui mô thị trường nội vùng, hạ tầng công nghệ chuyên sâu, trong khi các tỉnh thành đang hình thành hệ sinh thái bị thiếu R&D và nhân lực chất lượng cao, khan hiếm nguồn vốn tài chính, mạng lưới kết nối mỏng và rời rạc.
Hiện tại, Việt Nam đã có bộ chỉ số PII (đổi mới sáng tạo cấp tỉnh) rất tốt nhưng chưa đo lường đủ sâu các đặc thù riêng của khởi nghiệp sáng tạo (startup). Do vậy, xây dựng khung đo lường HST khởi nghiệp sáng tạo là hết sức cần thiết, không chỉ giúp hiểu biết hiện trạng mà để định hình tương lai đổi mới sáng tạo bền vững của quốc gia.
Theo đánh giá của bà Hoàng Thị Hải Yến, trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐH Quốc gia Hà Nội, tại Hội thảo Xây dựng cơ sở dữ liệu gắn với Bộ chỉ số đo lường HST khởi nghiệp sáng tạo, lực cản cốt lõi trong khoảng trống dữ liệu khởi nghiệp liên quan đến thách thức kỹ thuật. Cụ thể như dữ liệu startup nằm ở các sở KHCN, R&D ở Sở Tài chính, đổi mới ở Cục Thống kê, … mà không có cơ chế liên thông, mỗi nơi dùng một định dạng. Các chỉ số sống còn như vốn mạo hiểm nội địa, mức độ liên kết Viện - Trường - Doanh nghiệp gần như trắng số liệu ở cấp tỉnh…
Bà Hoàng Thị Hải Yến đã đưa ra một số bài học cảnh báo việc thực hiện nghiên cứu và xây dựng bộ chỉ số đo lường HST khởi nghiệp sáng tạo. Đó là:
Thứ nhất, chuyển từ số lượng sang chất lượng và tăng trưởng được cảnh báo cẩn thận rơi vào bẫy số lượng. Việc đếm số lượng doanh nghiệp đăng ký mới không phản ánh sức khỏe của HST khởi nghiệp sáng tạo.Về chất lượng, tiêu điểm tăng trưởng nằm ở việc cần đo lường tỷ lệ các doanh nghiệp tăng trưởng cao, khả năng hấp thụ công nghệ sâu và khát vọng vươn ra thị trường toàn cầu.
Thứ hai là chất keo tàng hình (văn hóa và mạng lưới): hạ tầng vật chất là chưa đủ bởi các HST hàng đầu thế giới được gắn kết bởi vốn xã hội. Người khởi nghiệp cần có niềm tin, văn hóa chấp nhận thất bại và chia sẻ chi thức phi chính thức. Vai trò của các “serial entrepreneurs” - người khởi nghiệp nhiều lần dẫn dắt cộng đồng cần được đề cao.
Thứ ba là vốn ưu tiên rủi ro thay vì tín dụng truyền thống. Đối với vốn tín dụng truyền thống, khởi nghiệp sáng tạo mang rủi ro cao, không tài sản thế chấp. Việc dùng chỉ số tín dụng ngân hàng để đo lường HST là sai lệch. Đối với vốn rủi ro, chỉ số cốt lõi cần đo lường như tổng giá trị gọi vốn mạo hiểm (VC), sự hiện diện của mạng lưới Nhà đầu tư Thiên thần (Angel Investor) và các nguồn quỹ đồng đầu tư.
Thứ tư là chuẩn đoán “điểm nghẽn” thay vì xếp hạng phong trào. Mục tiêu của việc đo lường không phải tạo ra các bảng xếp hạng thành tích. Mô hình chuẩn đoán giúp địa phương nhận diện chính xác nút thắt cần tháo gỡ.