Từ đất đai, vốn, thị trường đến năng lực điều hành, mỗi kiến nghị của doanh nghiệp là một lát cắt thực tiễn, góp thêm lời giải cho chặng đường phát triển mới của Bắc Ninh.
Một doanh nghiệp chưa thể tiếp cận vốn khi hồ sơ đất đai còn vướng quyết định thu hồi. Một nhà sản xuất vật liệu phải xoay xở giữa “cơn bão” giá nguyên liệu. Một hợp tác xã đưa đặc sản địa phương ra thị trường nhưng vẫn cần thêm bệ đỡ về vốn, công nghệ và xúc tiến thương mại. Một doanh nghiệp cơ khí mong có cơ hội bước sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các nhà máy FDI...
Những câu chuyện khác nhau gặp nhau ở một điểm: doanh nghiệp phản ánh khó khăn, vướng mắc, đồng thời mang đến những kiến nghị được chắt lọc từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh. Khi được lắng nghe, phân tích và chuyển hóa thành chính sách, đó sẽ là nguồn “dữ liệu sống” giúp Bắc Ninh hoàn thiện môi trường đầu tư và khai mở những động lực phát triển mới.
Mỗi điểm nghẽn là một “đề bài” cải cách
Với bà Nguyễn Thị Nhan - Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Công ty cổ phần Thương mại Việt Yên, điều doanh nghiệp cần nhất lúc này là một định hướng rõ ràng để có thể chủ động xây dựng phương án tồn tại và phát triển.

Hoạt động trong lĩnh vực thương mại tổng hợp, công ty đang chịu tác động kép từ sức ép cạnh tranh, khó khăn về vốn và sự thay đổi của không gian kinh doanh. Theo bà Nhan, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai, các hoạt động giao dịch, giải quyết công việc và lưu chuyển khách hàng có xu hướng phân tán về nhiều địa bàn. Vị trí kinh doanh của doanh nghiệp vì thế không còn giữ được lợi thế trung tâm như trước.
Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất vẫn là vấn đề đất đai. Theo phản ánh của doanh nghiệp, thời hạn thuê đất đã hết; mặc dù công ty đã lập báo cáo đầu tư và nhiều lần làm việc với các cơ quan chức năng, phương án tiếp tục sử dụng đất chưa được chấp thuận, trong khi khu đất đã có quyết định thu hồi. Việc chưa xác định được hướng đi tiếp theo khiến doanh nghiệp không thể cải tạo cơ sở hạ tầng, khó tiếp cận nguồn vốn và chưa dám triển khai kế hoạch đầu tư mới.
“Doanh nghiệp rất mong UBND tỉnh Bắc Ninh, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh và các cơ quan chức năng quan tâm, xem xét, hướng dẫn một phương án cụ thể để công ty có điều kiện tiếp tục hoạt động, duy trì việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động”, bà Nhan kiến nghị.
Vốn và mặt bằng cũng là hai vấn đề được ông Tạ Quang Hùng - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Plastic Hồng Phúc đặc biệt quan tâm.

Hoạt động trong lĩnh vực cung cấp các giải pháp về nhôm, đồng, thép và nhựa kỹ thuật công nghiệp, doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biến động giá nguyên vật liệu thế giới. Khi giá nhôm và nhựa đầu vào tăng, chi phí sản xuất bị đẩy lên trong khi việc điều chỉnh giá bán cần thời gian, khiến biên lợi nhuận ngày càng thu hẹp.
Để nâng cao khả năng chống chịu cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, ông Hùng đề xuất tỉnh Bắc Ninh tiếp tục đơn giản hóa thủ tục liên quan đến đầu tư, mở rộng sản xuất và môi trường; tăng cường các chương trình kết nối tín dụng để doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý; đồng thời quy hoạch quỹ đất công nghiệp có mức chi phí phù hợp hơn.
“Chính sách hỗ trợ cần được triển khai nhanh hơn, sát thực tế hơn để doanh nghiệp có thể tiếp cận hiệu quả. Việc tuyên truyền cũng cần dễ hiểu, giúp doanh nghiệp tránh lúng túng trong quá trình tuân thủ”, ông Hùng chia sẻ.
Ở đây, vai trò của Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh sẽ là “cầu nối” chính sách để doanh nghiệp có thể tiếp cận nhanh hơn, chính xác hơn.
Nhu cầu được trang bị kiến thức pháp luật cũng được ông Trần Văn Phong, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Phong Sinh, nhấn mạnh. Doanh nghiệp được thành lập năm 2020, đúng thời điểm hoạt động sản xuất, vận tải và lưu thông hàng hóa gặp nhiều khó khăn do đại dịch Covid-19. Để tồn tại, công ty phải liên tục thay đổi tư duy quản trị, điều chỉnh phương án kinh doanh và tiết giảm chi phí.
Khi vừa vượt qua những thử thách ban đầu, doanh nghiệp lại đối mặt với biến động chính trị quốc tế, giá nhiên liệu tăng và những thay đổi trong chính sách quản lý hoạt động vận tải. Theo ông Phong, một số quy định, nghị định và hướng dẫn thực hiện còn có cách hiểu chưa hoàn toàn thống nhất, khiến doanh nghiệp khó dự báo chi phí và xây dựng kế hoạch dài hạn.
“Doanh nghiệp muốn phát triển nhưng trước hết phải phát triển đúng pháp luật. Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh cần tăng các chương trình tập huấn, tư vấn pháp lý và định hướng kinh doanh theo từng ngành nghề, để sự hỗ trợ đi đúng vào những vấn đề doanh nghiệp đang cần”, ông Phong đề xuất.

Mở rộng thị trường, nâng cao năng lực điều hành
Trong khi những vướng mắc cần được tháo gỡ để doanh nghiệp có thể vận hành ổn định, thì song song đó cũng cần những giải pháp nhằm mở ra cơ hội phát triển mới.
Ông Trần Văn Hùng, Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư phát triển Hùng Phát cho biết, doanh nghiệp đang gia công cơ khí cho các nhà đầu tư FDI, doanh nghiệp trong nước và các nhà máy tại khu, cụm công nghiệp. Năng lực sản xuất đã được hình thành, song bài toán khó là làm thế nào mở rộng thị trường, tìm thêm khách hàng và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Ông Hùng mong muốn các chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại của tỉnh không chỉ giới thiệu môi trường kinh doanh với nhà đầu tư lớn, mà cần dành không gian kết nối trực tiếp giữa các tập đoàn, nhà máy FDI với doanh nghiệp nội địa.
Một danh mục nhà cung ứng trong tỉnh được cập nhật thường xuyên; các phiên kết nối mua hàng theo từng ngành; chương trình đánh giá, nâng chuẩn doanh nghiệp; hay cơ chế hỗ trợ đạt các chứng nhận kỹ thuật có thể giúp những doanh nghiệp như Hùng Phát tiến gần hơn tới các đơn hàng có giá trị cao.
Câu chuyện của ông Nguyễn Quyết Thắng, Giám đốc Hợp tác xã Sâm nam núi Dành Việt Lập cho thấy tiềm năng của sản phẩm bản địa khi được đầu tư chế biến và xây dựng thương hiệu.

Từ cây sâm núi Dành, hợp tác xã đã phát triển trà hoa sâm, ứng dụng công nghệ sấy và tham gia các chương trình xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, để sản phẩm vươn xa, hợp tác xã cần được hỗ trợ ổn định vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, bảo hộ thương hiệu, tiêu chuẩn hóa chất lượng, chế biến sâu và kết nối thị trường.
Bên cạnh đó, cần có chính sách tín dụng phù hợp với chu kỳ sản xuất nông nghiệp. Tỉnh nên lựa chọn những sản phẩm đặc trưng, có khả năng hình thành chuỗi giá trị để tập trung hỗ trợ từ vùng trồng, chế biến đến tiêu thụ.
Ông Nguyễn Quang Duẩn - Hộ kinh doanh Rượu vang Duẩn Hạnh đề xuất tỉnh hỗ trợ quảng bá sản phẩm địa phương thông qua các chương trình xúc tiến, hội nghị, triển lãm và hoạt động kết nối doanh nghiệp.
Theo ông Duẩn, nhiều cơ sở có sản phẩm tốt nhưng quy mô nhỏ, nguồn lực truyền thông hạn chế nên khó tiếp cận thị trường lớn. Việc giới thiệu sản phẩm trong các chương trình của tỉnh sẽ mở thêm cơ hội tìm kiếm khách hàng, đồng thời quảng bá hình ảnh Bắc Ninh.

Tuy nhiên, xúc tiến cần gắn với nâng cao chất lượng, bao bì, nhãn mác và truy xuất nguồn gốc. Hiệp hội Doanh nghiệp có thể hỗ trợ tư vấn, đánh giá để sản phẩm địa phương ngày càng chuyên nghiệp.
Nhìn từ góc độ điều hành, ông Dương Thanh Sơn - Giám đốc Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ Doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh cho rằng, tỉnh cần tiếp tục phát huy vai trò của Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành và địa phương - DDCI, đồng thời gắn kết chặt chẽ với mục tiêu nâng cao PCI.
Nếu PCI phản ánh cảm nhận chung của cộng đồng doanh nghiệp về môi trường kinh doanh cấp tỉnh, DDCI cần đi sâu chỉ ra cơ quan, địa phương nào đang làm tốt, khâu nào còn hạn chế và nguyên nhân đến từ quy trình, con người hay sự phối hợp.
Theo ông Sơn, DDCI không nên chỉ dừng lại ở một bảng xếp hạng công bố cuối năm. Giá trị lớn nhất của bộ chỉ số là tạo động lực cải cách, giúp người đứng đầu nhận diện vấn đề và xây dựng kế hoạch khắc phục có thời hạn.
Kết quả khảo sát cần được phân tích tới từng chỉ tiêu như tính minh bạch, chi phí thời gian, khả năng tiếp cận thông tin, thái độ phục vụ và hiệu quả giải quyết kiến nghị. Sau công bố phải có chương trình hành động, theo dõi sự chuyển biến và tiếp tục lấy ý kiến doanh nghiệp để kiểm chứng.
“Đích đến không phải là điểm số, mà là trải nghiệm thực tế của doanh nghiệp khi làm việc với cơ quan công quyền”, ông Sơn nêu quan điểm.

Trong tiến trình đó, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh cần được củng cố như một thiết chế đại diện thực chất. Hiệp hội vừa phản ánh khó khăn, vừa phải tổng hợp, phân tích để biến từng kiến nghị riêng lẻ thành đề xuất chính sách có căn cứ.
Các chương trình “Cà phê doanh nhân”, tư vấn chính sách, đào tạo pháp lý, kết nối tín dụng, chuyển đổi số, xúc tiến thị trường và liên kết với doanh nghiệp FDI cần được tổ chức theo hướng nhỏ hơn về quy mô nhưng sâu hơn về nội dung, có theo dõi kết quả sau mỗi hoạt động.
Những kiến nghị từ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh chính là các đề bài thực tiễn về đất đai, vốn, đào tạo, thị trường và chất lượng điều hành. Khi được lắng nghe, phản hồi trách nhiệm và chuyển hóa thành chính sách, trí tuệ doanh nghiệp sẽ trở thành nguồn lực giúp Bắc Ninh củng cố niềm tin, nuôi dưỡng doanh nghiệp bản địa và phát triển bền vững.