Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 1919/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 412/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030.

Diễn đàn Doanh nghiệp đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Việt Linh – Phó Giám Đốc, Phòng Phân tích Khách hàng tổ chức Công ty Chứng khoán Maybank (MSVN), xung quanh vấn đề này.
- So với Đề án trước đây, Quyết định 1919/QĐ-TTg có các nội dung sửa đổi nào quan trọng và đáng chú ý, thưa ông?
Quyết định mới sửa đổi quy định Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia có một số điểm khác biệt. Thứ nhất, đề án cũ được ban hành năm 2022; tại thời điểm đó, những mục tiêu kinh tế vĩ mô cho giai đoạn 2030 chưa rõ ràng và cũng thấp hơn hiện nay. Quyết định 1919/QĐ-TTg đã cập nhật các chỉ tiêu của Việt Nam về tăng trưởng kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2026-2030. Điều này rất quan trọng bởi một trong những tiêu chí để xem xét quốc gia có được nâng hạng tín nhiệm hay không là sức mạnh vĩ mô.
Thứ hai, Quyết định 1919/QĐ-TTg đã đưa ra những mục tiêu rõ ràng hơn về việc nâng cao tính minh bạch và chất lượng pháp lý của Việt Nam. Điểm nổi bật là việc chúng ta sẽ làm việc với các tổ chức quốc tế để Việt Nam bắt đầu có bộ chỉ số liên quan đến Trạng thái Đầu tư Quốc tế (IIP). Trước đây, Việt Nam có một rào cản công bố thông tin về cán cân thanh toán quốc tế quá chậm và hiện tại chưa có chỉ số IIP đó. Nay, chúng ta đã chính thức ghi nhận trong văn bản là sẽ nghiên cứu và phát triển chỉ số này. Đây là phần quan trọng, bởi vì khi nhìn vào báo cáo đánh giá của các đơn vị như Moody's, Fitch hay S&P, họ đều đồng quan điểm rằng nền kinh tế Việt Nam đã phát triển rất tốt. Tuy nhiên, chất lượng của các quy định pháp lý cũng như chất lượng công bố thông tin còn chưa đạt mức họ kỳ vọng. Do đó, đây là một tín hiệu tích cực.
Thứ ba, là việc đưa ra một số mục tiêu yêu cầu ngành ngân hàng phải chuẩn hóa báo cáo hoặc tuân thủ một số chỉ số tài chính quan trọng, ví dụ như về thanh khoản hay an toàn vốn. Điều này vô cùng quan trọng, bởi các tổ chức xếp hạng cũng chỉ ra là cần cải thiện sức mạnh hay khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng. Việc đưa ra mục tiêu trong đề án này sẽ tạo thêm động lực để hệ thống ngân hàng xử lý vấn đề trên.
Nhìn chung, quyết định này khẳng định quyết tâm của Việt Nam về cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia, với đích đến muộn nhất là năm 2030 Việt Nam sẽ nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức “Đầu tư”.
- Để đầu tư thì nhu cầu vốn là rất lớn. Nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia sẽ mở đường cho huy động vốn quốc tế bước vào một giai đoạn mới, thưa ông?
Trong thời gian tới, Chính phủ nên đóng vai trò dẫn dắt trong việc mở rộng đầu tư vì dư địa còn rất lớn. Điều này cũng đang được thể hiện trong các kế hoạch của Chính phủ. Ví dụ trong 4-5 năm tới, Việt Nam có rất nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng trọng điểm quốc gia, ước tính tổng quy mô hơn 200 tỷ USD. Nhà nước sẽ trực tiếp đầu tư 85% giá trị các dự án đó, khối tư nhân phần lớn chỉ tham gia dưới vai trò tổng thầu xây dựng.
Hiện tại, nếu nhìn vào bài toán chi phí vốn, tôi cho rằng Nhà nước đi vay nợ nước ngoài sẽ không hoàn toàn hiệu quả về mặt tài chính. Lý do là lãi suất huy động trong nước của Chính phủ đang rất thấp, chỉ khoảng 4,5%/năm. Áp lực bắt buộc phải vay nợ nước ngoài hoàn toàn không lớn. Nhưng Việt Nam vẫn cần hướng đến nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, vì điều này mang lại lợi ích và vị thế to lớn cho Việt Nam, cho doanh nghiệp, cho các mục tiêu chung trong tương lai.
- Những lợi ích được kỳ vọng cụ thể ra sao khi nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, thưa ông?
Việc nâng hạng tín nhiệm quốc gia không chỉ mang lại lợi ích cho Nhà nước mà còn hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp Việt Nam khi vay nợ nước ngoài. Xếp hạng tín nhiệm quốc gia giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn quốc tế rẻ hơn. Ví dụ, nếu Chính phủ đi vay quốc tế với lãi suất khoảng 7-8%/năm, thì khi Việt Nam được nâng hạng, lãi suất có thể giảm xuống chỉ còn 6-6,5%/năm. Tương tự, các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng nước ngoài cũng sẽ được hưởng mức lãi suất ưu đãi hơn nhờ xếp hạng quốc gia được cải thiện.
Theo tôi, nhu cầu vay nợ nước ngoài của Chính phủ cũng sẽ thực sự phát sinh khi một số dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm có những điều kiện bắt buộc sử dụng vốn ngoại thì đối tác mới tham gia. Ví dụ như dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam, chúng ta hiện chưa làm chủ được công nghệ, nên sẽ phải hợp tác với một đối tác nước ngoài trong quá trình xây dựng dự án. Quá trình hợp tác với đối tác nước ngoài thường sẽ đi kèm các điều khoản ràng buộc về việc sử dụng một phần nguồn vốn vay từ quốc gia đó. Nếu quốc gia được nâng hạng tín nhiệm, chi phí vay nợ nước ngoài của Chính phủ lúc đó cũng sẽ thấp hơn. Doanh nghiệp cũng sẽ có cơ hội huy động vốn với chi phí tốt hơn khi “trần” tín nhiệm quốc gia được nâng lên.
Nói ngắn gọn, ngoài việc giảm chi phí đi vay, nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia sẽ giúp thu hút dòng vốn nước ngoài tốt hơn rất nhiều. Dòng vốn FDI vào nhiều hơn thì cơ sở hạ tầng tốt hơn; con người phát triển tốt hơn, giàu có hơn và đất nước cũng sẽ phát triển thịnh vượng hơn.
- Trân trọng cảm ơn ông!