Ngày 24/8/2026 đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tiến trình hoàn thiện thể chế phát triển đô thị khi Quốc hội khóa XVI chính thức thông qua Luật Phát triển đô thị.

Đối với TP HCM, luật này không chỉ mở rộng không gian phân cấp, phân quyền mà còn tạo thêm cơ sở pháp lý cho Thành phố chủ động huy động các nguồn lực tài chính phục vụ đầu tư phát triển trong trung và dài hạn.
Theo thông tin công bố về Luật, đối với Trung tâm tài chính quốc tế tại TP HCM, HĐND Thành phố được quy định việc phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình tại Trung tâm để huy động vốn cho các dự án trọng điểm. Đồng thời, HĐND TP HCM được trao thêm thẩm quyền quyết định phát hành nhiều loại trái phiếu và vay từ các tổ chức tài chính trong nước, nước ngoài và quốc tế để huy động vốn cho dự án đầu tư, nhưng phải bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công.
Một tuyến đường sắt đô thị, một trung tâm logistics, một hệ thống xử lý nước thải hay một dự án hạ tầng giao thông lớn đều có vòng đời kinh tế kéo dài hàng chục năm. Về nguyên tắc tài chính, việc sử dụng nguồn vốn trung và dài hạn để tài trợ cho các tài sản dài hạn giúp tạo ra sự phù hợp tốt hơn về kỳ hạn.
Việc phát hành trái phiếu có thể mở rộng tập nhà đầu tư ngoài hệ thống ngân hàng, bao gồm các định chế đầu tư dài hạn, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, và về dài hạn có thể cả các nhà đầu tư tổ chức quốc tế.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng quyền phát hành trái phiếu không đồng nghĩa với khả năng huy động vốn không giới hạn. Luật đã đặt ra nguyên tắc phải bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công. Điều đó cho thấy việc sử dụng công cụ trái phiếu vẫn phải đặt trong tổng thể quản trị tài khóa quốc gia, khả năng cân đối ngân sách địa phương và năng lực trả nợ.
Do đó, điểm đáng kỳ vọng không nằm ở việc TP HCM có thể phát hành bao nhiêu trái phiếu, mà nằm ở khả năng Thành phố hình thành một thị trường huy động vốn đô thị có kỷ luật, minh bạch và gắn chặt với chất lượng dự án. Nếu làm được điều đó, trái phiếu có thể trở thành một trong những công cụ tài chính chiến lược của Thành phố trong giai đoạn phát triển mới.
Đối với TP HCM, một thị trường trái phiếu đô thị phát triển có thể giúp tạo ra cầu nối giữa nguồn tiết kiệm dài hạn trong nền kinh tế và nhu cầu vốn dài hạn của Thành phố. Điều này đặc biệt quan trọng trong 3 nhóm dự án.
Thứ nhất, là hạ tầng giao thông và đường sắt đô thị. Nghị quyết 09-NQ/TW đặt mục tiêu hoàn thành 200 km đường sắt đô thị đến năm 2030. Đường sắt đô thị không chỉ giải quyết giao thông mà còn có khả năng tái cấu trúc không gian đô thị thông qua mô hình TOD. Luật Phát triển đô thị cũng tạo cơ sở cho phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng, lấy các điểm kết nối đường sắt làm trung tâm tập trung dân cư, thương mại, dịch vụ...
Thứ hai, là hạ tầng logistics, cảng biển và khu thương mại tự do. Luật tạo cơ sở phát triển khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, khu công nghệ cao và các mô hình kinh tế mới, qua đó tạo ra hệ sinh thái liên kết giữa sản xuất, thương mại, logistics và dịch vụ tài chính.
Thứ ba, là hạ tầng xanh, số và đô thị thông minh. Một thành phố hướng đến tăng trưởng hai con số nhưng đồng thời đặt mục tiêu phát triển bền vững sẽ cần lượng vốn rất lớn cho giao thông công cộng, nước sạch, xử lý nước thải, năng lượng, hạ tầng số, chống ngập...
Trong những trường hợp này, việc huy động vốn thông qua thị trường trái phiếu có một lợi thế cơ bản: chi phí của tài sản hạ tầng có thể được phân bổ theo thời gian, phù hợp hơn với khoảng thời gian mà người dân và doanh nghiệp hưởng lợi từ tài sản đó. Tuy nhiên, đây cũng là nơi cần phân biệt rõ giữa “huy động được vốn” và “đầu tư hiệu quả”. Nếu nguồn vốn trái phiếu được đưa vào những dự án có suất đầu tư cao, kéo dài tiến độ, khả năng tạo nguồn thu thấp,... thì nghĩa vụ trả nợ vẫn tồn tại trong nhiều năm sau đó.
Vì vậy, trái phiếu đô thị chỉ thật sự trở thành đòn bẩy phát triển khi đi cùng một cơ chế lựa chọn dự án nghiêm ngặt, thẩm định độc lập, kiểm soát chi phí đầu tư, giám sát tiến độ và công khai hiệu quả sử dụng vốn. Nói cách khác, thị trường vốn có thể cung cấp nguồn lực, nhưng chất lượng quản trị mới quyết định nguồn lực đó tạo ra tăng trưởng hay tạo thêm nghĩa vụ tài chính trong tương lai.
Từ góc độ của một tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập, Saigon Ratings cho rằng, việc mở rộng thẩm quyền vay và phát hành trái phiếu của một chính quyền đô thị luôn có hai mặt. Một mặt, nó góp phần nâng cao năng lực huy động vốn tốt hơn giúp Thành phố không phải trì hoãn những dự án hạ tầng có ý nghĩa chiến lược chỉ vì nguồn ngân sách tại một thời điểm chưa đủ lớn. Mặt khác, khi dư nợ tăng lên, thì trách nhiệm đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ trả nợ đầy đủ, đúng hạn trong tương lai cũng tăng theo. Do đó, giai đoạn tiếp theo không chỉ cần văn bản hướng dẫn được phát hành như thế nào, mà còn cần một hệ thống quản trị rủi ro đủ mạnh.