9 tháng năm 2026, động lực lớn nhất giúp Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP cao đến từ việc đầu tư đã tăng gần 20%. Để đạt mục tiêu tăng trưởng trung bình 10%/năm trong nhiều năm tới, thì việc duy trì tỷ lệ đầu tư cao, tăng cường đầu tư, hỗ trợ phát triển kinh tế trong thời gian tới là điều kiện quan trọng.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng GDP đạt khoảng 9%, đặc biệt quý III/2026 đã gần chạm mức 10%. Trong các kế hoạch tăng trưởng vĩ mô của nhà nước giai đoạn này, có một điểm rất tích cực: Trước đây, đôi khi chúng ta chỉ đề ra một mục tiêu tổng thể, ví dụ 7% một năm, mà không có nhiều mục tiêu thành phần bên dưới để đánh giá xem việc thực thi có khả thi hay không. Hiện nay, mục tiêu tăng trưởng cao được đề ra với sự khác biệt: Có rất nhiều mục tiêu chi tiết. Điều này giúp chúng ta có cơ sở để đánh giá về tính khả thi.

Về mặt lý thuyết, tôi cho rằng mục tiêu đề ra với tăng trưởng GDP trung bình 10%/ năm giai đoạn tới là khả thi, bởi Chính phủ đã xác định động lực chính để đạt được là thông qua việc tăng cường đầu tư. Cụ thể ở đây là tăng cường đầu tư toàn xã hội bao gồm từ khối tư nhân, khối vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và khối nhà nước.
Nhìn từ thực tiễn 9 tháng năm 2026, động lực lớn nhất giúp Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP cao đến từ việc đầu tư (capital formation) đã tăng gần 20%. Để đạt mục tiêu tăng trưởng trung bình 10%/năm trong nhiều năm tới, thì việc duy trì tỷ lệ đầu tư cao, tăng cường đầu tư, hỗ trợ phát triển kinh tế trong thời gian tới là điều kiện quan trọng.
Mặc dù định hướng duy trì tỷ lệ đầu tư cao hay không, sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất để duy trì đầu tư cao mà không làm nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, là phải đảm bảo cán cân vãng lai không bị thâm hụt.
Trong năm 2026, cán cân vãng lai hiện đang thâm hụt nhẹ, đây là điều chúng ta cần nhìn nhận hết sức thấu đáo - và phải trả lời được câu hỏi vậy việc thâm hụt như vậy có dẫn đến tăng trưởng nóng hay không? Về khái niệm lý thuyết vĩ mô, khi mức đầu tư cao hơn mức tiết kiệm, cán cân vãng lai sẽ thâm hụt. Năm 2026 Việt Nam thực sự có mức thâm hụt, xuất phát từ nhiều yếu tố khách quan xung đột tại khu vực Trung Đông làm giá hàng hóa nhập khẩu toàn cầu tăng lên. Rủi ro chuỗi cung ứng khiến nhiều doanh nghiệp nhập khẩu vượt mức bình thường do lo ngại giá tăng hoặc sợ lặp lại kịch bản thiếu hụt nguyên vật liệu như giai đoạn 2020-2022. Xu hướng nhập khẩu tích trữ sớm (front-loading) này đã góp phần tạo ra khối lượng hàng tồn kho rất lớn trong nền kinh tế, khiến cán cân thương mại của Việt Nam liên tục thâm hụt trong 7 đến 8 tháng đầu năm...
Cán cân thương mại là một cấu phần trọng yếu của cán cân vãng lai, do đó khi cán cân thương mại thâm hụt thì gần như chắc chắn cán cân vãng lai cũng sẽ thâm hụt. Tôi thấy trong 7 tháng đầu năm, tình hình nhìn chung chưa thực sự tối ưu.
Tuy nhiên, trong tháng 8, tình hình đang có thay đổi, dù cán cân thương mại chưa thặng dư nhưng con số thâm hụt gần như đã về mức 0, không còn tình trạng thâm hụt mạnh 2-3 tỷ USD/tháng như trước. Rất tích cực là đến tháng 9, cán cân thương mại đã chính thức thặng dư trở lại khoảng 1,3 tỷ USD. Theo tôi đây là một chỉ báo rất quan trọng, bởi vì nhìn từ những quốc gia thành công trong việc duy trì tăng trưởng cao suốt thời gian dài như Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản, việc duy trì cán cân vãng lai ở mức thặng dư là yếu tố then chốt. Điều đó đồng nghĩa với việc mức đầu tư không vượt quá mức tiết kiệm, đảm bảo nền kinh tế không bị tăng trưởng quá nóng.
Về yếu tố tài khóa, chúng tôi cho rằng đây vẫn là một trong những lợi thế của Việt Nam. Dựa theo kịch bản đầu tư từ phía khu vực nhà nước trong giai đoạn 2026-2030, thì tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP dự kiến chỉ tăng nhẹ lên khoảng khoảng 34-35% (so với mức hiện tại khoảng 30% theo số liệu từ IMF), còn cách xa mức trần 50%/GDP.

Lợi thế về tài khóa này của Việt Nam đến từ năng lực thu ngân sách nhà nước hiện nay đã tốt hơn rất nhiều so với giai đoạn 2011-2013. Ví dụ, năm 2010-2011, mỗi năm nhà nước đầu tư 10 tỷ USD thì dư nợ chính phủ cũng tăng tương ứng 10 tỷ USD. Nhưng hiện tại, chính phủ đầu tư 10 tỷ USD thì dư nợ chính phủ chỉ tăng thêm 2-3 tỷ USD, phần còn lại được bù đắp nhờ nguồn thu ngân sách dồi dào hơn. Do đó, áp lực huy động vốn của Chính phủ đã nhẹ nhàng hơn nhiều so với trước đây, tạo dư địa tốt để nhà nước hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế trong thời gian tới.
Ở phía tiền tệ, chúng ta có thể nhận thấy sức khỏe hệ thống ngân hàng Việt Nam - là một trọng tâm trong các đánh giá của Moody's, S&P hay Fitch để quyết định việc Việt Nam có được nâng hạng tín nhiệm quốc gia hay không - đã cải thiện và được nâng cao lên đáng kể so với trước đây.
Để tiếp tục thúc đẩy các ngân hàng cải thiện chỉ số an toàn vốn và tuân thủ các tiêu chuẩn quản trị thanh khoản quốc tế, thời gian gần đây, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 50 đưa ra lộ trình để các ngân hàng thương mại chuyển dần sang quản trị rủi ro thanh khoản theo chuẩn Basel 3. Về bản chất, khi các ngân hàng thương mại đi vay vốn quốc tế, đối tác sẽ áp dụng các bộ tiêu chuẩn quốc tế. Họ không chỉ đánh giá Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) mà sẽ đánh giá cùng Tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản (LCR) hay Tỷ lệ nguồn vốn tài trợ ổn định ròng (NSFR). Việc thúc đẩy các ngân hàng áp dụng bộ chuẩn mực mới này sẽ giúp hệ thống ngân hàng vững mạnh hơn, tạo tiền đề để Việt Nam được nâng hạng tín nhiệm.
Hiện tại, nhiều ngân hàng tư nhân hàng đầu hoàn toàn có đủ năng lực đạt tiêu chuẩn Basel 3 ngay lập tức. Khi sớm đạt được các tiêu chuẩn này, họ sẽ nắm giữ lợi thế cạnh tranh và tạo động lực lan tỏa buộc các ngân hàng nhỏ hơn cũng phải chuyển mình.
Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế cũng bắt buộc song hành cùng chuyển đổi xanh. ESG đang là một xu hướng vô cùng rõ ràng. Các báo cáo đánh giá tín nhiệm của Moody's hay S&P đều đặt trọng tâm vào vấn đề phát triển bền vững. Kể từ năm 2022, thế giới cũng đã chứng kiến nhiều biến động, những căng thẳng địa chính trị đã tạo ra làn sóng chuyển dịch đầu tư mạnh mẽ vào các lĩnh vực xanh và ESG. Các quốc gia đang phát triển như Việt Nam có ít lợi thế về nguồn năng lượng hóa thạch, nếu muốn phát triển bền vững trong dài hạn thì bắt buộc phải chuyển dịch sang năng lượng tái tạo. Năng lượng mặt trời và năng lượng gió chính là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của chúng ta.
Có thể nói, về bản chất, Việt Nam được các tổ chức quốc tế về sức mạnh tài khóa. Nợ chính phủ thấp và lãi suất vay của chính phủ cũng thấp. Nhu cầu trong nước đối với trái phiếu chính phủ luôn ổn định. Việt Nam vẫn đang trong tiến trình nâng cao sức mạnh hệ thống ngân hàng và sức chống chịu của nền kinh tế trước những biến động của bên ngoài. Việc giữ vững niềm tin của các nhà đầu tư - với điều kiện về cải thiện tín nhiệm quốc gia, nâng xếp hạng quốc gia lên mức "Đầu tư" với đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín, có ý nghĩa củng cố niềm tin đó - góp sức hút để Việt Nam tiếp tục củng cố, tăng cường sức chống chịu với các biến động lẫn nâng cao cạnh tranh của nền kinh tế, sẵn sàng ở một chu kỳ tăng trưởng GDP cao từ trên 10%, ổn định và dài hạn.
3 yếu tố cải thiện để đáp ứng đánh giá về nâng bậc xếp hạng tín nhiệm quốc gia của các tổ chức xếp hạng quốc tế hàng đầu: Thứ nhất, cải thiện chất lượng quy định pháp lý và công bố thông tin. Thứ hai, hệ thống ngân hàng Việt Nam phải tăng được tỷ lệ an toàn vốn lên, các ngân hàng phải áp dụng đồng bộ chuẩn mực Basel 3. Thứ ba, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế đối với các cú sốc bên ngoài, gia tăng quy mô dự trữ ngoại hối.