Từ đặc sản vùng miền, vải trứng Hưng Yên đang mở ra dư địa mới cho các doanh nghiệp xuất khẩu, chế biến sâu và phát triển du lịch trải nghiệm nông nghiệp.
Khi những chùm vải trứng bắt đầu chuyển đỏ trên các khu vườn ở Hưng Yên, đó là tín hiệu của một mùa thu hoạch. Đằng sau vị ngọt thanh, cùi dày, hạt nhỏ và mẫu mã đẹp của loại quả đặc sản này là câu chuyện rộng hơn về xây dựng vùng nguyên liệu, nâng chuẩn canh tác, kết nối doanh nghiệp và phát triển mô hình nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm.

Dư địa thị trường lớn
Không phải ngẫu nhiên vải trứng Hưng Yên trở thành loại trái cây được người tiêu dùng săn đón mỗi dịp đầu hè. So với nhiều giống vải thông thường, vải trứng có kích thước lớn hơn, vỏ đỏ đẹp, cùi dày, hạt nhỏ, vị ngọt thanh và hương thơm dịu. Theo các nhà vườn, trung bình mỗi kilogam vải chỉ khoảng 16 đến 22 quả, cá biệt có loại chỉ từ 13 đến 16 quả/kg. Chính kích cỡ, chất lượng và sự khác biệt về cảm quan đã tạo nên vị thế riêng cho loại quả này trong phân khúc nông sản cao cấp.
Từ cây vải tổ ở xã Đoàn Đào có tuổi đời trên 100 năm, vải trứng Hưng Yên dần được nhân giống, mở rộng diện tích, hình thành vùng sản xuất đặc sản mang dấu ấn địa phương. Tuy nhiên, đây không phải giống cây dễ tính. Cây vải trứng khó đậu quả, nhạy cảm với thời tiết, đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc chặt chẽ và kinh nghiệm sản xuất lâu năm. Vì vậy, mỗi mùa vải đạt chất lượng cao là kết quả của quy trình chăm sóc tỉ mỉ, từ tỉa cành, xử lý ra hoa, bón phân, điều tiết nước đến phòng trừ sâu bệnh.
Ông Đoàn Văn Hiểu, Giám đốc Hợp tác xã vải trứng Hưng Yên cho biết, thời tiết năm nay diễn biến phức tạp, hợp tác xã phải áp dụng nhiều biện pháp để cây ra hoa, kết trái đúng vụ, bảo đảm năng suất và chất lượng. Theo ông Hiểu, ngoài kinh nghiệm của bà con, các buổi tư vấn, tập huấn của ngành nông nghiệp và môi trường giúp xã viên nắm chắc hơn kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ cây trong từng giai đoạn sinh trưởng.
“Cây vải trứng rất khó tính, muốn cây khỏe, cho nhiều trái thì phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau. Chúng tôi mong ngành nông nghiệp tiếp tục có thêm những giải pháp sáng tạo, sát thực tế để hỗ trợ hợp tác xã nâng cao năng suất, chất lượng qua từng mùa vụ”, ông Hiểu chia sẻ.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên, toàn tỉnh hiện có hơn 1.300 ha trồng vải lai chín sớm Phù Cừ và vải trứng. Nhiều diện tích đã được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hướng tới phục vụ các thị trường có yêu cầu cao như Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu. Đây là nền tảng quan trọng để Hưng Yên tiếp tục chuẩn hóa vùng trồng, nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi tiêu thụ.
Với doanh nghiệp xuất khẩu, dư địa của vải trứng Hưng sẽ nằm ở khả năng định vị sản phẩm. Thị trường quốc tế ngày càng quan tâm đến nông sản có vùng trồng rõ ràng, quy trình sản xuất an toàn, chất lượng đồng đều, bao bì phù hợp và câu chuyện bản địa hấp dẫn. Vải trứng Hưng Yên có lợi thế ở tính khác biệt, nếu được đầu tư bài bản, đây có thể trở thành sản phẩm quà tặng cao cấp, sản phẩm xuất khẩu tươi, hoặc nguyên liệu cho chế biến sâu như vải sấy, nước ép, siro, mứt, đồ uống và sản phẩm du lịch.

Cần nhìn vải trứng như một chuỗi giá trị
Để đi xa hơn, vải trứng Hưng Yên cần sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp. Ông Nguyễn Văn Tráng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên cho rằng, người nông dân và hợp tác xã có thể tạo ra sản phẩm tốt, nhưng để sản phẩm chinh phục thị trường lớn, cần có doanh nghiệp đồng hành trong khâu tiêu chuẩn hóa, bảo quản, thiết kế bao bì, xây dựng thương hiệu, phát triển kênh bán hàng và tổ chức xuất khẩu.
Cũng theo ông Tráng, vải trứng Hưng Yên xuất phát từ cây vải tổ ở xã Đoàn Đào. Mặc dù người dân đã nhân giống ra diện rộng, nhưng đặc tính của cây khó đậu quả nên ngành nông nghiệp đã tư vấn cho các xã viên hợp tác xã nhiều biện pháp ứng dụng kỹ thuật trồng trọt nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Từ thực tế đó, có thể thấy cơ hội cho doanh nghiệp không chỉ là thu mua khi vào vụ, mà là đầu tư liên kết ngay từ đầu chu kỳ sản xuất. Doanh nghiệp có thể phối hợp với hợp tác xã xây dựng mã số vùng trồng, chuẩn hóa nhật ký sản xuất, áp dụng truy xuất nguồn gốc điện tử, hướng dẫn quy trình thu hái, phân loại, sơ chế, đóng gói và vận chuyển. Khi các khâu này được làm đồng bộ, trái vải không còn phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường truyền thống mà có thể tiếp cận hệ thống siêu thị, sàn thương mại điện tử, kênh quà biếu, nhà hàng, khách sạn và các thị trường xuất khẩu.
Một hướng đi khác là chế biến sâu. Do đặc thù mùa vụ ngắn, vải tươi thường chịu áp lực tiêu thụ trong thời gian ngắn. Nếu có doanh nghiệp đầu tư công nghệ sấy lạnh, cấp đông, ép nước, chế biến đồ uống hoặc sản phẩm giá trị gia tăng, áp lực mùa vụ sẽ giảm, đồng thời kéo dài vòng đời thương mại của sản phẩm. Đây cũng là cách giúp nông dân ổn định đầu ra, hợp tác xã nâng cao năng lực tổ chức sản xuất và doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch thị trường.
Bên cạnh đó, vải trứng Hưng Yên có thể được định vị như một sản phẩm đặc sản cao cấp gắn với nhận diện địa phương. Trong kinh doanh nông sản hiện đại, người tiêu dùng không chỉ mua một loại quả, mà mua cả niềm tin, câu chuyện và trải nghiệm. Cây vải tổ hơn trăm năm tuổi, quy trình canh tác an toàn, những khu vườn đỏ quả vào đầu hè và sự chăm chút của người nông dân chính là chất liệu quan trọng để xây dựng thương hiệu.
Tuy nhiên, để doanh nghiệp mạnh dạn tham gia, hạ tầng vùng trồng cần tiếp tục được cải thiện. Theo ông Đoàn Văn Hiểu, hợp tác xã mong Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên và chính quyền địa phương nghiên cứu, nâng cấp giao thông về các vườn vải để thuận tiện cho vận chuyển, tiêu thụ và phục vụ du khách tham quan, trải nghiệm. Đề xuất này rất thực tế, bởi với nông sản tươi, thời gian vận chuyển và điều kiện bảo quản có ý nghĩa quyết định đến chất lượng cuối cùng. Hạ tầng tốt cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp logistics, đơn vị du lịch và hệ thống phân phối kết nối thuận lợi hơn với vùng sản xuất.