ESG đang trở thành "tấm hộ chiếu" để doanh nghiệp Việt tiếp cận nguồn vốn quốc tế, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và tạo lợi thế cạnh tranh khó sao chép trong kỷ nguyên kinh tế xanh.
Những núi bã mía khổng lồ sau mỗi vụ ép đường từ lâu vẫn bị xem là gánh nặng xử lý môi trường. Nhưng tại Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (AgriS), thứ phế phẩm ấy đang được chuyển hóa thành một loại tài sản tài chính có giá trên sàn giao dịch quốc tế. Chia sẻ tại Diễn đàn ASEAN IV Connect 2026, bà Trần Quế Trang, Phó Chủ tịch Ủy ban Điều hành AgriS, cho biết mỗi năm doanh nghiệp này duy trì sản lượng 200.000 chứng chỉ năng lượng sạch I-REC từ nguồn nguyên liệu tái tạo như bã mía, đồng thời phát hành 5.500 chứng chỉ carbon theo tiêu chuẩn Verra từ dự án sản xuất phân hữu cơ giảm phát thải.
.jpg)
Theo bà Quế Trang, công ty AgriS đã đạt chứng nhận Bonsucro. Đây là tiêu chuẩn bền vững quốc tế trong ngành mía đường. Đạt được chứng nhận này thì sẽ được các thương hiệu lớn như Pepsi, Coca-Cola hoặc Nestle ưu tiên sử dụng. Ngoài ra, nhờ triển khai ESG một cách minh bạch, AgriS đã huy động lũy kế hơn 400 triệu đô la từ các định chế tài chính quốc tế như ING (Hà Lan), SACE (Ý) và First Commercial Bank (Đài Loan).
Câu chuyện của AgriS là một lát cắt cho thấy một sự dịch chuyển đang diễn ra tron doanh nghiệp Việt. Ở đó, chất thải không còn đơn thuần là chi phí phải xử lý, mà có thể trở thành "giấy thông hành" để tiếp cận dòng vốn xanh trị giá hàng trăm triệu đô la từ các định chế tài chính quốc tế.
Bà Quế Trang nhấn mạnh ESG ngày nay đã trở thành "ngôn ngữ chung của thị trường toàn cầu", đồng thời là điều kiện để doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng quốc tế và tiếp cận các thị trường bán hàng cao cấp. Với hệ sinh thái hơn 200 dòng sản phẩm từ mía, dừa, gạo, dứa, xuất khẩu tới hơn 80 thị trường, và gần 78.000 héc-ta vùng nguyên liệu trải dài bốn quốc gia (Việt Nam, Lào, Campuchia, Úc), bà cho rằng ESG không phải là hoạt động truyền thông hình ảnh mà là điều kiện sống còn để tiếp cận nguồn vốn rẻ và bền vững.
Câu chuyện về ESG còn có ý nghĩa hơn trong bối cảnh Việt Nam đang muốn chuyển dời từ hình ảnh một nước chuyên gia công sang “nắm giữ giá trị thực”. Trước đây Việt Nam là công xưởng gia công (OEM) lớn của thế giới. Thế nhưng theo ông Nguyễn Quốc Uy, Phó Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp SME châu Á tại Việt Nam, khi mức nhân công và giá đất khu công nghệ tại Việt Nam tiếp tục tăng cao, các đơn hàng gia công sẽ chảy về những thị trường rẻ hơn, đồng nghĩa Việt Nam mất đi lợi thế cạnh tranh.
Khi đó, nếu các doanh nghiệp Việt Nam chuyển sang hướng nắm giữ giá trị, trong đó có cả xây dựng được hồ sơ ESG minh bạch, thì rất khó để các đối thủ giá rẻ sao chép trong ngắn hạn, tạo nên lợi thế cạnh tranh và thế chủ động nắm giữ giá trị.
Tuy vậy, bà Quế Trang cũng thừa nhận rằng khi triển khai ESG ở quy mô lớn, doanh nghiệp phải đối mặt với ba thách thức chính, bao gồm chi phí, chính sách và con người.
Về chi phí, bà cho biết việc chuyển đổi từ công nghệ cũ sang công nghệ hiện đại ít phát thải khiến chi phí vận hành tăng lên đáng kể, cộng thêm khoản đầu tư thuê tư vấn quốc tế cho các dự án kiểm kê phát thải đầu tiên khi doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm.
Về con người, bà Quế Trang cho rằng thách thức lớn nhất không phải là con người thiếu sẵn sàng thay đổi, mà là họ chưa đủ niềm tin rằng mô hình sản xuất mới sẽ cải thiện thu nhập và giảm rủi ro sinh kế.
Về chính sách, bà nhận định các cơ chế khuyến khích tại Việt Nam, như ưu đãi thuế cho dự án có hàm lượng ESG cao, vẫn chưa đủ mạnh, khiến doanh nghiệp gặp khó khi cân đối giữa mục tiêu bền vững và hiệu quả tài chính ngắn hạn. Từ thực tiễn này, bà đề xuất cần một khung pháp lý đồng bộ, tiệm cận chuẩn quốc tế, cùng cơ chế tín dụng xanh và ưu đãi thuế đủ sức hấp dẫn.
Mặc dù khó khăn, nhưng đây là cuộc đua không có chỗ cho người chậm chân, vì áp lực từ thị trường quốc tế, đặc biệt những thị trường khó tính, đang đến gần hơn bao giờ hết. Theo ông Phan Minh Thông, Chủ tịch Phúc Sinh, từ tháng 1/2027, tất cả doanh nghiệp xuất khẩu cà phê và nguyên liệu vào châu Âu sẽ buộc phải tuân thủ quy định EUDR về chống phá rừng, sau khi EU đã trì hoãn quy định này hai năm.
Từ góc nhìn của người trong ngành mía đường lẫn ngành cà phê - hồ tiêu, cả bà Quế Trang và ông Minh Thông đều đi đến tư tưởng chung, đó là xây dựng thương hiệu gắn với ESG không phải là câu chuyện làm đẹp hình ảnh trong ngắn hạn, mà là khoản đầu tư dài hơi, tốn kém, và đòi hỏi sự kiên trì qua nhiều năm trước khi nhìn thấy hiệu quả tài chính rõ ràng.
Cuộc đua ESG vì thế không chỉ là câu chuyện của môi trường hay trách nhiệm xã hội. Khi các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn và dòng vốn quốc tế ưu tiên doanh nghiệp phát triển bền vững, ESG đang trở thành một loại tài sản chiến lược. Những doanh nghiệp chấp nhận đầu tư từ sớm có thể phải trả giá bằng chi phí và thời gian trong ngắn hạn, nhưng đổi lại là cơ hội tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn, thị trường lớn hơn và vị thế cạnh tranh bền vững hơn trong dài hạn. Trong một thế giới mà giá trị ngày càng được đo bằng khả năng phát triển có trách nhiệm, đây không còn là lựa chọn, mà là điều kiện để doanh nghiệp Việt giữ được chỗ đứng trên bản đồ kinh tế toàn cầu.