Mặc dù hệ thống pháp lý về việc xử lý nợ xấu cơ bản đã tương đối đầy đủ, tuy nhiên, hiệu quả thu hồi trên thực tế được cho chưa đạt như kỳ vọng bởi những khó khăn, vướng mắc kéo dài.
Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, trong quý I/2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 3,18%, cao hơn nhiều so với mức tăng 0,55% của huy động vốn, thể hiện rõ áp lực thanh khoản tại các ngân hàng.

Trong bối cảnh đó, việc xử lý nợ xấu nổi lên như một giải pháp mang tính căn cơ để giải tỏa áp lực. Việc thu hồi và khai thác nợ xấu không chỉ giúp các ngân hàng giảm chi phí mà còn thúc đẩy dòng vốn lưu thông, hỗ trợ doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế.
Dù Luật Các tổ chức tín dụng đã sửa đổi, bổ sung quyền cho ngân hàng, như thu giữ tài sản bảo đảm,… tuy nhiên, theo các chuyên gia, quá trình xử lý nợ xấu hiện nay vẫn gặp nhiều vướng mắc do khung pháp lý chưa đồng bộ, đặc biệt là trong xử lý tài sản bất động sản và các thủ tục tố tụng kéo dài.
Cụ thể, việc sang tên tài sản sau đấu giá hay thủ tục thi hành án kéo dài, phát sinh tranh chấp, thậm chí mang tính trì hoãn, gây khó khăn cho tổ chức tín dụng; hiệu quả phối hợp giữa cơ quan thi hành án, chính quyền địa phương và ngân hàng chưa đồng bộ, khiến tiến độ xử lý nợ xấu chậm;...

Trước thực tế đã nêu, để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm, xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, không ít ý kiến cho rằng, cần bước ngoặt mới.
Theo TS Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, cần cho phép mua bán nợ theo giá thị trường, kể cả dưới giá sổ sách, thúc đẩy giao dịch và luân chuyển dòng vốn. Đồng thời, cần phát triển các công cụ như chứng khoán hóa nợ và xây dựng sàn giao dịch chuyên biệt. Hoàn thiện thể chế, mở rộng quyền cho các chủ thể tham gia, tăng minh bạch thông tin và phát triển thị trường thứ cấp là các yếu tố then chốt.
Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) cũng cần nâng cao năng lực tài chính, cho phép chuyển nợ thành vốn góp để tham gia tái cơ cấu doanh nghiệp, đồng thời tăng cường quản trị, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong xử lý nợ.
“Nếu không cải cách mạnh mẽ, áp lực nợ xấu sẽ tiếp tục gia tăng và ảnh hưởng an toàn hệ thống tài chính”, TS Cấn Văn Lực cảnh báo.
Còn theo ông Đặng Đình Thích, quyền Tổng Giám đốc VAMC, dù tỷ lệ nợ xấu nội bảng vẫn trong giới hạn, nhưng nợ tiềm ẩn và các khoản cơ cấu lại còn lớn. Điều này phản ánh khó khăn của doanh nghiệp chưa được xử lý triệt để.
Vị này cho biết, nhóm nợ rủi ro cao vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể, trong khi nợ cần chú ý có xu hướng tăng. Ngoài ra, nợ xấu có xu hướng tập trung vào một số lĩnh vực như: bất động sản, xây dựng, xuất khẩu… và một phần nợ xấu chưa được phản ánh đầy đủ trong bối cảnh thị trường tài sản biến động, thanh khoản chưa cải thiện và khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế.
“Nợ xấu không chỉ là vấn đề của quá khứ mà còn là rủi ro cho tương lai. Nếu không có giải pháp đồng bộ, nợ xấu có thể quay lại theo chu kỳ mới”, ông Đặng Đình Thích bày tỏ.
Đồng thời cho hay, thời gian qua, VAMC tiếp tục giữ vai trò hỗ trợ xử lý nợ xấu và đảm bảo an toàn hệ thống. Hoạt động của VAMC đã chuyển từ mua nợ mang tính kỹ thuật sang tiếp cận theo cơ chế thị trường, gắn với xử lý tài sản bảo đảm và cơ cấu lại khách hàng.
Tuy nhiên, quá trình xử lý nợ vẫn gặp nhiều khó khăn. Khuôn khổ pháp lý chưa đồng bộ, xử lý tài sản bảo đảm còn vướng mắc, đặc biệt là bất động sản. Cơ chế tố tụng và thi hành án còn kéo dài. Thị trường mua bán nợ chưa phát triển.
Vì vậy, ông Đặng Đình Thích cho rằng, cần cách tiếp cận tổng thể, không chỉ dựa vào VAMC hay tổ chức tín dụng.
Xoay quanh vấn đề này, để giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong xử lý nợ xấu, một số ý kiến cũng cho hay, cần hoàn thiện pháp lý về chứng cứ điện tử theo hướng rõ ràng, thống nhất và khả thi.
Trong đó, cần xây dựng khái niệm và điều kiện chấp nhận chứng cứ điện tử, quy định cụ thể cách thức giao nộp, tiếp nhận trong tố tụng. Đồng thời, ban hành bộ nguyên tắc thu thập chứng cứ điện tử áp dụng chung, bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu chứng minh và bảo vệ quyền lợi các bên. Cho phép đương sự sử dụng dịch vụ chuyên gia, thúc đẩy ứng dụng công nghệ số, đặc biệt trong thu thập xuyên biên giới. Ngoài ra, cần quy định rõ trách nhiệm cung cấp, phối hợp và bảo đảm tính nguyên bản của chứng cứ điện tử.