Góp ý sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, nhiều ý kiến cho rằng cần tiếp tục rà soát để bảo đảm tính đồng bộ với các luật liên quan và nâng cao tính khả thi khi triển khai.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng pháp lý đồng bộ cho quản lý tổng hợp tài nguyên, khai thác hiệu quả không gian biển và bảo vệ hệ sinh thái biển trong giai đoạn phát triển mới.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường hiện đang hoàn thiện Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi (Dự thảo) với nhiều quy định mới về quản lý không gian biển, phát triển kinh tế biển xanh, đẩy mạnh phân cấp, chuyển đổi số và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Cụ thể, Dự thảo gồm 8 chương, 85 điều, được xây dựng theo hướng luật khung, tập trung quy định những nội dung mang tính nguyên tắc, ổn định; các nội dung kỹ thuật, chuyên ngành sẽ giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính linh hoạt trong quá trình tổ chức thực hiện.
Trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật năm 2015, Dự thảo bổ sung nhiều nội dung mới liên quan đến quản lý, sử dụng không gian biển; giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển; cơ chế xác lập quyền sử dụng khu vực biển; chính sách ưu đãi phát triển kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Một điểm đáng chú ý là Dự thảo bổ sung cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng trong quản lý tổng hợp tài nguyên và không gian biển; hoàn thiện các quy định về kiểm soát ô nhiễm, quản lý rác thải nhựa biển, bảo vệ vùng bờ, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, đồng thời nội luật hóa một số cam kết quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học biển.
Theo Ban soạn thảo, Dự thảo cũng hướng tới cắt giảm, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng dữ liệu số, phân định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương. Đây được xem là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, khai thác bền vững tài nguyên biển và tạo động lực cho phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới.
Bên cạnh việc đánh giá cao định hướng đổi mới của Dự thảo, các bộ, ngành cũng đề xuất tiếp tục rà soát, hoàn thiện nhiều quy định nhằm nâng cao tính khả thi và bảo đảm sự thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ nhận định Dự thảo đã bám sát bốn nhóm chính sách đã được Chính phủ thông qua. Tuy nhiên, Bộ đề nghị bổ sung khái niệm "không gian biển" để thống nhất cách hiểu trong quá trình áp dụng; đồng thời thống nhất tên gọi các chương trình khoa học và công nghệ với quy định của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo.
Bộ cũng kiến nghị giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen biển; bổ sung các quy định về an toàn thông tin đối với hệ thống dữ liệu tài nguyên, môi trường biển nhằm bảo đảm an toàn cho hoạt động nghiên cứu, khai thác và chia sẻ dữ liệu trong tương lai.
Trong khi đó, đại diện Bộ Công an đề nghị làm rõ hơn việc phân định trách nhiệm quản lý không gian biển giữa cơ quan Trung ương và địa phương, đồng thời xác định khung thời hạn tối đa đối với việc giao khu vực biển ngay trong Luật để bảo đảm tính minh bạch, thống nhất khi triển khai.
Đối với hoạt động nhận chìm ở biển, Bộ Công an kiến nghị chỉ cho phép thực hiện khi đã áp dụng các giải pháp xử lý vật liệu khác nhưng không khả thi hoặc không mang lại hiệu quả, qua đó hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến môi trường biển.
Liên quan đến tính thống nhất của hệ thống pháp luật, nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát để bảo đảm sự đồng bộ giữa Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) với Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi), đặc biệt đối với các quy định về quy hoạch không gian biển và hoạt động dầu khí, tránh phát sinh chồng chéo trong quá trình thực hiện.
Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng không chỉ tháo gỡ những bất cập sau hơn 10 năm thi hành Luật năm 2015 mà còn tạo hành lang pháp lý hiện đại cho quản lý tổng hợp tài nguyên và không gian biển. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để Việt Nam khai thác hiệu quả tiềm năng biển, phát triển kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp, đồng thời thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.