Hoạt động đầu tư khởi nghiệp công nghệ, đổi mới sáng tạo với chủ trương, quyết sách mạnh mẽ từ Nghị quyết 57-NQ/TW, khai mở một không gian rộng lớn đầy triển vọng cho thị trường.

Diễn đàn Doanh nghiệp đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Đức Trung - Phó Tổng Giám đốc Điều hành Quỹ đầu tư Mạo hiểm VinaCapital (VinaCapital Ventures), phụ trách và điều hành Quỹ đầu tư mạo hiểm TPHCM (HCM VIF), xung quanh vấn đề này.
- Thưa ông, thị trường chứng khoán Việt Nam đã qua 6 tháng đầu năm với không ít biến động. Tuy nhiên, với đặc thù của VinaCapital Ventures, xin ông cho biết đôi nét về kết quả hoạt động của quỹ tính đến hiện nay?
VinaCapital Ventures được thành lập với chiến lược đầu tư vào các doanh nghiệp công nghệ có khả năng tăng trưởng nhanh, hoạt động tại Việt Nam hoặc có liên hệ mật thiết với thị trường Việt Nam. Trong những năm qua, chúng tôi đã xây dựng được một danh mục đầu tư đa dạng trải dài từ fintech, foodtech, y tế số, thương mại điện tử đến các nền tảng công nghệ phục vụ chuyển đổi số.
Bên cạnh kết quả đầu tư tích cực thể hiện qua việc chúng tôi đã bắt đầu thoái vốn từ cuối năm 2024, điều chúng tôi đánh giá cao hơn là khả năng đồng hành cùng các nhà sáng lập trong việc mở rộng quy mô kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị và kết nối với mạng lưới đối tác chiến lược trong và ngoài nước, qua đó tạo ra các giá trị kinh tế bền vững.
- Bối cảnh chính sách hiện nay có những thuận lợi gì cho hoạt động của quỹ, thưa ông?
Có thể nói với Nghị quyết 57-NQ/TW và Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg, đây là lần đầu tiên Việt Nam đưa ra định hướng toàn diện cho các công nghệ chiến lược. Chúng tôi cho rằng đây là giai đoạn thuận lợi đối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Việc Chính phủ liên tục khẳng định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực tăng trưởng mới đã gửi đi tín hiệu rất tích cực, giúp doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và nhà đầu tư có cơ sở hoạch định kế hoạch dài hạn.
Đặc biệt, việc xác định các nhóm công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn hay công nghệ sinh học giúp thị trường có định hướng phát triển rõ ràng hơn. Điều này không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chiến lược dài hạn mà còn giúp các quỹ đầu tư nhận diện tốt hơn những lĩnh vực có tiềm năng tạo ra giá trị bền vững.
Quan trọng hơn, khi Chính phủ thể hiện cam kết thúc đẩy đổi mới sáng tạo và trực tiếp tham gia theo mô hình đối tác công tư, niềm tin của khu vực tư nhân cả trong và ngoài nước cũng được củng cố. Đây là điều kiện cần thiết để thu hút dòng vốn dài hạn vào các lĩnh vực công nghệ, vốn đòi hỏi thời gian dài và khả năng chấp nhận rủi ro cao hơn so với nhiều ngành nghề truyền thống.
- Từ thực tế thị trường, xin ông chia sẻ những khó khăn, đặc biệt là góc nhìn từ quan hệ tổ chức đầu tư - doanh nghiệp khởi nghiệp, công nghệ?
Tôi nhận thấy một số điểm: Thứ nhất là khoảng trống về nguồn vốn tăng trưởng ở các giai đoạn sau. Chúng ta đang có nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp giai đoạn đầu, nhưng khi các công ty khởi nghiệp bước vào giai đoạn mở rộng quy mô, nhu cầu vốn có thể tăng lên rất nhanh cùng với các yêu cầu khắt khe hơn về quản trị, minh bạch tài chính và năng lực vận hành.
Thứ hai là sự phát triển của công nghệ thường diễn ra nhanh hơn quá trình hoàn thiện khung pháp lý. Nhiều mô hình kinh doanh mới xuất hiện đòi hỏi cơ quan quản lý vừa phải hỗ trợ đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm kiểm soát rủi ro và tuân thủ. Đây là thách thức không chỉ của Việt Nam mà của hầu hết các thị trường đang phát triển.
Thứ ba là khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa. Nhiều công nghệ và sáng kiến có tiềm năng được phát triển tại các viện nghiên cứu, trường đại học, nhưng chưa có đủ cơ chế và nguồn lực để đưa ra thị trường. Việc kết nối hiệu quả hơn giữa khối nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà đầu tư sẽ giúp hình thành nhiều doanh nghiệp công nghệ có khả năng tăng trưởng và tạo giá trị cao hơn cho nền kinh tế.
Ngoài ra, hệ sinh thái khởi nghiệp vẫn cần thêm các kênh thoái vốn linh hoạt và thông suốt cùng cơ chế giao dịch thứ cấp để khuyến khích vốn đầu tư mạo hiểm tiếp tục được tái đầu tư vào thế hệ doanh nghiệp tiếp theo. Đây là yếu tố có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của thị trường đầu tư đổi mới sáng tạo.
- Ông dự báo như thế nào về bức tranh tăng trưởng công nghệ, start up của Việt Nam trong giai đoạn 2027-2030?
Tôi khá lạc quan về triển vọng của hệ sinh thái công nghệ Việt Nam trong giai đoạn tới. Động lực tăng trưởng sẽ không chỉ đến từ nhu cầu chuyển đổi số mà còn từ yêu cầu nâng cao năng suất của toàn bộ nền kinh tế. Đây là xu hướng mang tính cấu trúc và sẽ tiếp tục diễn ra trong nhiều năm tới.
Chúng ta đang chứng kiến sự hình thành của nhiều cơ hội mới trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, fintech, năng lượng xanh và hạ tầng dữ liệu. Đây đều là những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao và thu hút sự quan tâm mạnh mẽ từ các nhà đầu tư toàn cầu.
Tuy nhiên, để Việt Nam thực sự bứt phá, điều quan trọng không chỉ là tạo ra nhiều công ty khởi nghiệp hơn mà là xây dựng được những doanh nghiệp công nghệ có quy mô lớn, nắm giữ công nghệ lõi và có khả năng phát triển công nghệ nguồn nhằm tạo sức cạnh tranh khu vực và quốc tế. Muốn vậy, chúng ta cần tiếp tục phát triển thị trường vốn, thu hút nguồn vốn dài hạn và hoàn thiện các cơ chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo.
Theo tôi, thập kỷ tới sẽ quyết định liệu các công ty công nghệ Việt Nam là mục tiêu bị thâu tóm hay trở thành những người chủ động đầu tư, mở rộng ra khu vực và toàn cầu; đồng thời liệu Việt Nam chỉ tiêu thụ công nghệ hay có thể tạo ra và sở hữu công nghệ của chính mình. Xa hơn, sự phát triển của các doanh nghiệp công nghệ không chỉ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế mà còn giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, củng cố nền tảng cho tự chủ công nghệ và tự chủ tài chính quốc gia trong dài hạn.
- Trân trọng cảm ơn ông!