Doanh nghiệp

Kiến tạo "luật chơi" để Việt Nam bứt phá với kinh tế biển xanh

Thy Hằng thực hiện 26/07/2026 17:07

Để bứt phá với kinh tế biển xanh, Việt Nam cần sớm hoàn thiện thể chế, chủ động kiến tạo "luật chơi" và kết nối cảng biển, logistics, công nghiệp, du lịch thành một hệ sinh thái phát triển xanh, đủ sức thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao.

Chia sẻ với Diễn đàn Doanh nghiệp bên lề Diễn đàn Kinh tế Mùa hè 2026 với chủ đề “kinh tế biển – du lịch xanh – kiến tạo tương tai bền vững”, bà Lưu Thị Thanh Mẫu, Phó Chủ Tịch thường trực Hiệp Hội Doanh nghiệp Xanh TP.HCM (HGBA), Tổng Giám Đốc Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Phúc Khang nhấn mạnh, để biến lợi thế biển thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, Việt Nam cần chủ động xây dựng khu kinh tế biển xanh với thể chế đồng bộ, kết nối hạ tầng, logistics, công nghiệp và du lịch trong một hệ sinh thái phát triển xanh, qua đó thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

2aoboqmryqagf9bu00gcs3lilt8fklzaa8ztldr6.jpg
Bà Lưu Thị Thanh Mẫu, Phó Chủ Tịch thường trực HGBA nhấn mạnh, để biến lợi thế biển thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, Việt Nam cần chủ động xây dựng khu kinh tế biển xanh

- Theo bà, đâu là yêu cầu tiên quyết khi phát triển Khu kinh tế biển xanh và Việt Nam chủ động kiến tạo cuộc chơi này như thế nào?

Chúng ta cần xác định rõ ràng khái niệm "Khu kinh tế biển xanh" và chuẩn bị tâm thế chủ động khi triển khai, chủ động đón nhận dòng vốn FDI. Hiện nay, các tiêu chuẩn quốc tế đòi hỏi rất cao, như yêu cầu hàng hóa xuất khẩu đều phải đi qua các điểm kiểm soát nghiêm ngặt về chất lượng và độ chuẩn xanh. Nếu chuẩn bị tốt, chúng ta sẽ làm chủ cuộc chơi về kinh tế biển dựa trên lợi thế vị trí địa lý và chất lượng sản phẩm.

Thực tế cho thấy, nhiều ngành hàng khác đang dần đánh mất lợi thế. Ví dụ như ngành dệt may, chúng ta đang phải nhường vị thế cho Sri Lanka và một số quốc gia khác. Việt Nam có đường bờ biển dài và các điều kiện thuận lợi, chúng ta cần đánh thức tiềm năng này theo mô hình tăng trưởng xanh.

- Vậy còn vai trò của việc kết nối giữa kinh tế biển, logistics, du lịch và công nghiệp trong chiến lược phát triển xanh, bền vững của khu vực phía Nam, thưa bà?

Theo tôi, nếu chúng ta tiếp tục phát triển kinh tế biển, logistics, du lịch và công nghiệp một cách rời rạc, chi phí đầu tư sẽ cao, nguồn lực bị phân tán và lợi thế vùng không được khai thác tối đa. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy phát triển theo từng ngành sang tư duy phát triển theo hệ sinh thái tích hợp. Đây không chỉ là xu hướng, mà là điều kiện bắt buộc trong bối cảnh thế giới đang chuyển sang mô hình tăng trưởng xanh và phát thải thấp.

Khu vực phía Nam có đầy đủ nền tảng để làm điều này: hệ thống cảng biển quốc tế, trung tâm logistics, mạng lưới công nghiệp năng động và tài nguyên du lịch đa dạng. Vấn đề không phải là thiếu lợi thế, mà là cách chúng ta kết nối các lợi thế đó.

Khi được quy hoạch đồng bộ, vận hành trên nền tảng hạ tầng xanh, công nghệ số và tiêu chuẩn ESG, các ngành này sẽ tạo thành một chuỗi giá trị khép kín: từ sản xuất xanh, vận tải xanh, cảng xanh đến du lịch xanh và tiêu dùng xanh. Liên kết không chỉ tạo ra giá trị cộng hưởng mà còn giúp giảm chi phí hệ thống và giảm phát thải trên toàn chuỗi.

Tôi tin rằng đây là con đường để vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chuyển hóa lợi thế về vị trí địa kinh tế thành lợi thế cạnh tranh dựa trên chất lượng tăng trưởng, năng suất, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Định hướng này không chỉ phù hợp với cam kết đưa phát thải ròng về mức ‘0’ (Net Zero) của Việt Nam vào năm 2050, mà còn tạo nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi xanh và chuyển đổi số đang trở thành xu thế toàn cầu. Đồng thời, đây cũng là bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa tinh thần của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, với định hướng xây dựng mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, qua đó đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và có thu nhập cao trong những thập niên tới.

1wupukfphzhdjp83mcdxnveehkwqrtljfccdokroeiqcp7zpdfsazyn7hhuxtnw5zhe.jpg
Các chuyên gia tại phiên Talkshow của Diễn đàn Kinh tế Mùa hè 2026

- Theo Hiệp hội, đâu là những cơ hội lớn nhất để các địa phương ven biển tận dụng lợi thế cảng biển, du lịch và công nghiệp nhằm hình thành một hệ sinh thái kinh tế xanh, có giá trị gia tăng cao như bà vừa nêu?

Theo tôi, có bốn cơ hội lớn mà các địa phương ven biển có thể nắm bắt. Thứ nhất, phát triển các khu kinh tế biển xanh gắn với cảng biển thông minh, logistics xanh và khu công nghiệp sinh thái. Đây sẽ là nền tảng để thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, đặc biệt trong bối cảnh các nhà đầu tư toàn cầu ngày càng ưu tiên tiêu chuẩn môi trường và phát thải thấp.

Thứ hai, kết hợp công nghiệp với du lịch. Các khu công nghiệp công nghệ cao, cảng hiện đại hay trung tâm đổi mới sáng tạo hoàn toàn có thể trở thành điểm tham quan, học tập và trải nghiệm. Điều này giúp mở rộng chuỗi giá trị du lịch và tạo ra những sản phẩm khác biệt.

Thứ ba, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Khi chất thải của doanh nghiệp này trở thành đầu vào của doanh nghiệp khác, và khi năng lượng tái tạo, nước tái sử dụng, vật liệu xanh được ứng dụng rộng rãi, doanh nghiệp không chỉ giảm chi phí mà còn đáp ứng các tiêu chuẩn carbon ngày càng khắt khe.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực xanh và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Hiện nay, nguồn nhân lực có khả năng kết hợp giữa công nghệ, môi trường và vận hành vẫn còn thiếu, trong khi đây lại là yếu tố quyết định cho chuyển đổi xanh.

- Từ kinh nghiệm thực tiễn, bà nhận thấy những xu hướng mới nào về logistics xanh, cảng xanh, du lịch xanh đang tác động mạnh đến hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam?

Từ thực tiễn doanh nghiệp, tôi thấy ba xu hướng đang tác động rất rõ. Thứ nhất là xanh hóa chuỗi cung ứng. Ngày nay, các tập đoàn toàn cầu không chỉ đánh giá giá thành mà còn đo lường lượng phát thải carbon trên toàn chuỗi. Các cơ chế như CBAM của châu Âu đang khiến phát thải trở thành một yếu tố chi phí thực sự. Điều này buộc doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi nếu muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, ví dụ như đầu tư vào vận tải tiết kiệm năng lượng, kho bãi thông minh và quản trị ESG.

Thứ hai là phát triển cảng xanh và logistics số. Các cảng đang ứng dụng mạnh mẽ AI, IoT (Internet vạn vật = Internet of Thing), dữ liệu lớn (Big Data), tự động hóa và điện khí hóa thiết bị xếp dỡ để tối ưu vận hành, giảm chi phí và giảm phát thải. Đây sẽ sớm trở thành tiêu chuẩn cạnh tranh mới.

Thứ ba là du lịch xanh và du lịch có trách nhiệm. Du khách ngày càng quan tâm đến yếu tố môi trường, văn hóa bản địa và trách nhiệm xã hội. Doanh nghiệp nào minh bạch và thực chất trong ESG sẽ có lợi thế rõ rệt trong thu hút khách và đối tác quốc tế.

- Vậy đâu sẽ là "chìa khóa vàng" để biến lợi thế biển của Việt Nam thành lợi thế cạnh tranh quốc gia?

Theo tôi, "chìa khóa" không nằm ở việc chúng ta có đường bờ biển dài, mà nằm ở thể chế và tư duy kiến tạo không gian phát triển. Nhiều quốc gia có quy mô biển nhỏ hơn Việt Nam nhưng vẫn trở thành trung tâm hàng hải và logistics toàn cầu nhờ xây dựng được hệ sinh thái đồng bộ giữa cảng biển, công nghiệp, logistics, đổi mới sáng tạo, tài chính và dịch vụ. Điều này minh chứng rằng lợi thế cạnh tranh quốc gia trong không gian phát triển biển không còn chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên, mà nhờ vào "năng lực mềm" trong việc tổ chức và điều phối không gian.

Vì vây, để chọn một "chìa khóa vàng" tôi sẽ chọn năng lực kết nối. Đó là kết nối hạ tầng, kết nối chuỗi giá trị, kết nối công nghệ và kết nối các nguồn lực. Khi các nguồn lực không còn phát triển riêng lẻ mà được phối hợp theo tư duy liên ngành, liên vùng và bổ trợ lẫn nhau, chúng ta sẽ hình thành một hệ sinh thái kinh tế biển, nơi công nghiệp, logistics, cảng biển, du lịch, dịch vụ cùng nhau tạo ra giá trị.

Trân trọng cảm ơn bà!

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Kiến tạo "luật chơi" để Việt Nam bứt phá với kinh tế biển xanh
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO