Khởi nghiệp

Mở đường cho doanh nghiệp spinoff

Phạm Tuấn Hiệp - Giám đốc Đầu tư - BK Holdings, Đại học Bách khoa Hà Nội 29/06/2026 14:58

Hành lang pháp lý cho việc thành lập và đầu tư doanh nghiệp spinoff trong đại học công lập đã không còn ở mức thử nghiệm, mà đã bắt đầu hình thành thành một khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh.

20250925-cbo_2153.jpg

Đến thời điểm hiện nay, trụ cột của khung pháp lý thành lập các doanh nghiệp này là sự giao thoa giữa luật Doanh nghiệp, Luật đặc thù cho Hà Nội, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Giáo dục đại học, cùng các luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, giá và tài sản công.

Ba loại doanh nghiệp có thể thành lập

Đại học công lập có thể thành lập, góp vốn doanh nghiệp với 3 loại mục tiêu pháp lý. Nếu không tách rõ, nhiều trường sẽ lẫn giữa “doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu”, “doanh nghiệp khoa học và công nghệ”, và “doanh nghiệp quản lý tài sản trí tuệ, vốn đầu tư”, dẫn tới làm đề án sai mục tiêu, sai căn cứ pháp lý, sai quy trình.

Doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu là nhóm doanh nghiệp hình thành để đưa một kết quả nghiên cứu, một công nghệ, một sáng chế, một quy trình, một giải pháp kỹ thuật ra thị trường.

Với Hà Nội, cơ sở pháp lý rất rõ: khoản 4 Điều 23 Luật Thủ đô 2024 cho phép cơ sở giáo dục đại học công lập, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập và tổ chức khoa học và công nghệ công lập khác trên địa bàn Thành phố được thành lập hoặc tham gia thành lập doanh nghiệp, tham gia góp vốn vào doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ thuộc quyền sở hữu trí tuệ của chính đơn vị đó. Chính phủ đã cụ thể hóa bằng Nghị định 271/2025/NĐ-CP.

Mục tiêu chính không phải “có thêm một công ty”, mà làn kéo công nghệ ra khỏi phòng thí nghiệm; gọi vốn được; ký hợp đồng thương mại được; chia sẻ lợi ích giữa trường, nhà khoa học, nhà đầu tư và doanh nghiệp. Đây là mô hình sát nhất với khái niệm spinoff đại học.

Doanh nghiệp khoa học và công nghệ được Luật Giáo dục đại học 2025, Điều 28, quy định cơ sở giáo dục đại học được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ, tổ chức đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, và doanh nghiệp quản lý tài sản trí tuệ, vốn đầu tư vào doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật. Mô hình này rộng hơn spinoff thuần túy. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ có thể thương mại hóa công nghệ do trường tạo ra, phát triển tiếp công nghệ mới; nhận chuyển giao công nghệ từ trường hoặc từ đối tác khác… Trọng tâm của mô hình này không chỉ là “mang một sáng chế ra thị trường”, mà còn là xây một doanh nghiệp lấy khoa học, công nghệ làm nền tảng hoạt động lâu dài.

Doanh nghiệp quản lý tài sản trí tuệ, vốn đầu tư là mô hình rất đáng chú ý, vì nó cho phép đại học không chỉ tạo ra doanh nghiệp vận hành sản phẩm, mà còn tạo ra một thực thể quản lý danh mục tài sản công nghệ và danh mục đầu tư. Điều 28 Luật Giáo dục đại học 2025 còn mở ra mô hình doanh nghiệp quản lý tài sản trí tuệ, vốn đầu tư vào doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Đồng thời luật cho phép cơ sở giáo dục đại học thực hiện việc định giá, xác lập quyền sở hữu, khai thác, góp vốn, phân chia lợi ích từ tài sản trí tuệ, kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật. Mô hình này phù hợp khi trường muốn gom các sáng chế, phần mềm, giống, quy trình, dữ liệu, bí quyết công nghệ vào một đầu mối quản lý, đàm phán cấp phép, chuyển nhượng, góp vốn bằng IP một cách chuyên nghiệp; đại diện phần vốn của trường tại các startup/spinoff …

5 nút thắt lớn hiện nay

Nguồn lực để thúc đẩy spinoff tại đại học công lập có thể đến từ 4 nhóm, gồm: ngân sách và nguồn tự chủ hợp pháp của trường; Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ của trường; nguồn thu từ chuyển giao công nghệ, khai thác tài sản trí tuệ; tài trợ, đồng tài trợ, hợp tác với doanh nghiệp, quỹ, địa phương. Tuy nhiên, nút thắt lớn nhất hiện nay không còn nằm hoàn toàn ở chỗ “có được làm không”, mà chuyển sang 5 điểm sau.

Cụ thể, Trường chưa phân loại đúng loại doanh nghiệp mình cần. Nhiều nơi gom tất cả vào một chữ “startup”, trong khi bản chất có ít nhất ba lớp: startup của sinh viên; startup của giảng viên từ nghiên cứu; spinoff sở hữu hoặc đồng sở hữu bởi nhà trường. Ba loại này cần quy trình, cơ chế vốn, quản trị và kiểm soát rủi ro hoàn toàn khác nhau.

Trường có thể có viện, trung tâm, phòng khoa học, nhưng chưa chắc đã có thiết chế trung gian chuyên nghiệp như nơi làm IP scouting; nơi làm định giá công nghệ; nơi làm proof-of-concept; nơi làm venture building; nơi đại diện phần vốn góp của trường.
Lãnh đạo trường, lãnh đạo đơn vị, kế toán, pháp chế thường lo 4 câu hỏi: nếu định giá sai thì ai chịu trách nhiệm? Nếu doanh nghiệp thất bại thì có bị quy là làm thất thoát tài sản công không? Nnếu giảng viên tham gia điều hành doanh nghiệp thì có xung đột vai trò không? Nếu gọi nhà đầu tư tư nhân vào thì trường có mất quyền kiểm soát IP không? Đây là những lo ngại có thật, và giải pháp không phải là “không làm”, mà là thiết kế đúng cơ chế quản trị.

Phần lớn công nghệ đại học chết ở “vùng giữa” do chưa đủ non để là nghiên cứu thuần, chưa đủ chín để nhà đầu tư rót vốn. Nếu không có quỹ PoC, kinh phí làm mẫu thử, thử nghiệm thị trường, hoàn thiện IP, tư vấn pháp lý, thì khó ra spinoff thật.

Cuối cùng, một trường đại học lớn không nên chỉ nghĩ “một công nghệ – một công ty”. Trường cần nhìn theo logic danh mục đầu tư,, gồm: 100 kết quả nghiên cứu, 20 công nghệ đáng sàng lọc, 10 dự án PoC, 5 dự án ươm tạo, 2–3 spinoff thành lập, 1 công ty đủ sức mở rộng và gọi vốn..

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Mở đường cho doanh nghiệp spinoff
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO