Cơ chế mới cho phép ngân hàng thương mại tham gia quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp được đánh giá là phù hợp với thực tiễn, nhưng cần quy định rõ giới hạn trách nhiệm, minh bạch vai trò và ngăn ngừa tình trạng chồng lấn lợi ích.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng (Luật số 23/2026/QH16) sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/12/2026. Luật gồm 4 điều, tập trung xử lý những vấn đề phát sinh do sắp xếp, tổ chức bộ máy; khắc phục những thiếu hụt trong pháp luật về phòng, chống rửa tiền theo khuyến nghị của FATF, APG và OECD; tháo gỡ vướng mắc trong cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và tạo cơ sở để Ngân hàng Nhà nước thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thành viên tại Tổ chức Tiền tệ Quốc tế.
Đồng thời, Luật kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội và luật hóa các quy định liên quan đến hạn chế quyền công dân.

Một nội dung đáng chú ý là đối với Luật Các tổ chức tín dụng, Luật số 23/2026/QH16 bổ sung tại khoản 2 Điều 114 quy định về “đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp”, tạo cơ sở pháp lý để ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động này.
Quy định mới được kỳ vọng mở thêm một kênh chuyên nghiệp trong quản lý tài sản bảo đảm, nhất là trong bối cảnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý. Tuy nhiên, việc ngân hàng tham gia vào hoạt động này cũng đặt ra yêu cầu phải làm rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát rủi ro giữa các bên.
Đặc biệt, khi ngân hàng đồng thời tham gia nhiều vai trò trong cùng một giao dịch, nguy cơ xung đột lợi ích có thể phát sinh, nhất là khi doanh nghiệp phát hành gặp khó khăn về tài chính.
Cùng với đó, Luật bãi bỏ Điều 22 và khoản 2 Điều 34 của Pháp lệnh Ngoại hối, bảo đảm thống nhất với các quy định mới về nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam và bãi bỏ trách nhiệm của Bộ Tài chính trong việc kiểm tra quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước tại Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Theo TS Châu Đình Linh, Chuyên gia kinh tế, Giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh, về nguyên tắc, việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp là hướng đi hợp lý.
Theo ông, ngân hàng có năng lực quản trị tài sản, hạ tầng và kinh nghiệm xử lý tài sản bảo đảm. Nếu được thiết kế chặt chẽ, cơ chế này có thể chuyên nghiệp hóa việc quản lý tài sản và góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Tuy nhiên, vấn đề cần đặc biệt lưu ý là xung đột lợi ích. Một ngân hàng có thể đồng thời cấp tín dụng cho doanh nghiệp phát hành, tham gia phân phối hoặc bảo lãnh thanh toán và quản lý tài sản bảo đảm cho trái chủ.
“Khi các vai trò chồng lấn, nguy cơ ngân hàng ưu tiên lợi ích tín dụng của mình thay vì lợi ích của nhà đầu tư có thể phát sinh, nhất là khi doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính”, TS Châu Đình Linh phân tích.
Theo chuyên gia, có thể quy định rõ các trường hợp ngân hàng không được đồng thời đảm nhận một số vai trò có khả năng xung đột, đồng thời yêu cầu công khai, minh bạch với nhà đầu tư về phạm vi trách nhiệm của ngân hàng trong từng vai trò như đại lý phát hành, bảo lãnh thanh toán hay quản lý tài sản bảo đảm.
“Điều quan trọng nhất là luật nên phòng ngừa từ sớm, từ xa”, ông Linh nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, nhiều ý kiến chuyên gia cũng thống nhất rằng việc bổ sung vai trò đại lý quản lý tài sản bảo đảm cho ngân hàng thương mại có thể giúp thị trường trái phiếu doanh nghiệp chuyên nghiệp hơn, đặc biệt trong khâu quản lý, giám sát và xử lý tài sản khi phát sinh rủi ro.
Ngân hàng vốn có kinh nghiệm trong thẩm định, quản lý và xử lý tài sản bảo đảm. Việc tận dụng năng lực này có thể góp phần nâng cao chất lượng quản lý tài sản và hạn chế tình trạng tài sản bảo đảm không được kiểm soát chặt chẽ trong suốt vòng đời của trái phiếu.
Tuy nhiên, để cơ chế mới không tạo ra cách hiểu rằng ngân hàng đang “bảo lãnh” cho trái phiếu, cần phân định thật rõ trách nhiệm của ngân hàng với trách nhiệm của doanh nghiệp phát hành và các chủ thể liên quan.Nhà đầu tư cần biết rõ ngân hàng đang thực hiện vai trò quản lý tài sản bảo đảm hay có nghĩa vụ bảo đảm cho khả năng thanh toán của trái phiếu. Hai trách nhiệm này hoàn toàn khác nhau.
Theo đó, pháp luật về chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp cần tiếp tục quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chí, quyền và nghĩa vụ của ngân hàng khi thực hiện hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm. Đồng thời, cần làm rõ trách nhiệm trong trường hợp tài sản bảo đảm suy giảm giá trị, không đủ khả năng thanh toán hoặc phát sinh tranh chấp trong quá trình xử lý. Việc minh bạch ngay từ đầu về phạm vi trách nhiệm không chỉ giúp bảo vệ nhà đầu tư mà còn hạn chế rủi ro pháp lý cho chính ngân hàng thương mại khi tham gia thị trường.