Phân tích - Bình luận

Mỹ áp thuế 12,5% với hàng hóa Việt Nam, rủi ro còn tiềm ẩn?

Nam Trần - Ảnh Quốc Tuấn 25/07/2026 04:10

Hàng hóa Việt Nam vào Mỹ chịu thêm thuế 12,5% theo Mục 301, cao hơn mức áp cho Campuchia, Indonesia và Malaysia, nhưng ngang một số nền kinh tế khác trong khu vực.

Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) ngày 23/7 công bố hành động cuối cùng trong 60 cuộc điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, liên quan đến việc các đối tác chưa thiết lập hoặc thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức.

Screenshot 2026-07-24 124540
USTR công bố quyết định thuế quan mới vào ngày 23/7 theo giờ Mỹ (Ảnh chụp màn hình)

Theo quyết định, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam chịu thuế bổ sung 12,5%, trừ các sản phẩm được miễn theo Phụ lục I và Phụ lục II, Phần A của thông báo.

Thuế mới áp dụng đối với hàng nhập khẩu để tiêu thụ hoặc rút khỏi kho để tiêu thụ kể từ 0 giờ 01 phút ngày 24/7 theo giờ miền Đông Hoa Kỳ, tương đương 11 giờ 01 phút cùng ngày theo giờ Việt Nam.

Thời điểm này trùng với thời điểm khoản phụ thu nhập khẩu tạm thời 10% theo Mục 122, có hiệu lực từ ngày 24/2 và giới hạn trong 150 ngày, kết thúc.

Ba cách áp thuế

Quyết định của Mỹ thiết lập ba cách áp thuế đối với 60 nền kinh tế bị điều tra.

Nhóm thứ nhất chịu thuế Mục 301 ở mức 10%, gồm 17 nền kinh tế: Argentina, Bangladesh, Campuchia, Canada, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Malaysia, Mexico, Pakistan, Sri Lanka, Trinidad và Tobago, cùng Vương quốc Anh.

Theo USTR, nhóm này gồm những nền kinh tế đã ban hành lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức; cam kết ban hành và thực thi lệnh cấm trong khuôn khổ một thỏa thuận thương mại đối ứng với Mỹ; hoặc đã áp dụng một cơ chế bán phần có tác dụng ngăn chặn một số hàng hóa thuộc diện này.

Nhóm thứ hai gồm Liên minh châu Âu, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc và Thụy Sĩ, được áp dụng cách tính thuế dựa trên thuế suất tối huệ quốc (MFN) hiện hành.

Đối với hàng hóa từ Liên minh châu Âu và Đài Loan, nếu thuế MFN thấp hơn 10%, Mỹ áp thêm thuế Mục 301 để tổng hai mức thuế đạt 10%. Nếu thuế MFN đã bằng hoặc cao hơn 10%, thuế Mục 301 bằng 0.

Cơ chế tương tự được áp dụng với Nhật Bản, Hàn Quốc và Thụy Sĩ, nhưng ngưỡng tổng thuế là 12,5%.

Nhóm còn lại chịu thuế Mục 301 cố định 12,5%. Việt Nam nằm trong nhóm này cùng Thái Lan, Philippines, Singapore, Trung Quốc, Australia, Brazil, Israel, New Zealand, Na Uy, Nga và một số nền kinh tế khác.

Cấu trúc trên cho thấy mức thuế của Việt Nam cao hơn 2,5 điểm phần trăm so với Campuchia, Indonesia và Malaysia - ba địa điểm sản xuất có mức độ cạnh tranh đáng kể với Việt Nam trong một số lĩnh vực như dệt may, da giày và hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, Việt Nam chịu mức thuế tương đương Thái Lan, Philippines và Singapore.

Năm nền kinh tế được giảm xuống 10%

So với phương án USTR công bố ngày 5/6, năm nền kinh tế ban đầu nằm trong nhóm 12,5% đã được chuyển xuống mức 10%, gồm Honduras, Ấn Độ, Jordan, Sri Lanka và Trinidad và Tobago.

Sau khi phương án sơ bộ được công bố, Honduras, Ấn Độ, Sri Lanka và Trinidad và Tobago đã ban hành lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Jordan đưa cam kết liên quan vào thỏa thuận thương mại đối ứng với Mỹ.

Campuchia và Guatemala cũng ban hành lệnh cấm trong giai đoạn này, nhưng hai nước đã được đề xuất áp mức 10% từ trước do có các cam kết thương mại với Washington.

Trong phần giải trình, USTR cho rằng việc một quốc gia phê chuẩn các công ước quốc tế về lao động hoặc thực hiện biện pháp chống lao động cưỡng bức trong phạm vi nội địa không thay thế cho một lệnh cấm nhập khẩu có hiệu lực.

Cơ quan này cũng không chấp nhận việc một nước mới xây dựng hoặc đề xuất quy định nhưng chưa chính thức ban hành làm căn cứ để giảm thuế.

01_fnct.jpg
Hàng hóa Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ chịu thuế 12,5% (Ảnh: Quốc Tuấn)

Lợi thế dệt may mới ở dạng tiềm năng

Quyết định của Tổng thống Mỹ yêu cầu USTR thiết lập hạn ngạch thuế quan đối với một số sản phẩm dệt may của Bangladesh, Campuchia, Indonesia và Malaysia trong thời hạn ban đầu ba năm.

Theo cơ chế dự kiến, một lượng hàng dệt may nhất định từ bốn nước có thể vào Mỹ mà không chịu thuế Mục 301. Quy mô hạn ngạch sẽ được xác định dựa trên lượng bông và nguyên liệu dệt có xuất xứ Mỹ mà từng nước nhập khẩu.

Mục tiêu được Washington đưa ra là khuyến khích các nước sử dụng nguyên liệu của Mỹ và giảm sự phụ thuộc vào các nguồn cung có nguy cơ liên quan đến lao động cưỡng bức.

Tuy nhiên, cơ chế này chưa được áp dụng ngay. USTR phải ban hành thông báo riêng về quy mô hạn ngạch, phạm vi sản phẩm, phương pháp phân bổ và ngày có hiệu lực.

Cho tới khi hạn ngạch được thiết lập, các sản phẩm dệt may dự kiến thuộc cơ chế này của Bangladesh, Campuchia, Indonesia và Malaysia vẫn chịu thuế Mục 301 ở mức 10%.

Việt Nam không nằm trong danh sách được xem xét cấp hạn ngạch. Nếu cơ chế được triển khai, khoảng cách cạnh tranh có thể lớn hơn mức chênh lệch thuế danh nghĩa 2,5 điểm phần trăm. Mức độ tác động còn phụ thuộc vào quy mô hạn ngạch và khả năng đáp ứng điều kiện sử dụng nguyên liệu Mỹ của từng nước.

Bổ sung 471 nhóm sản phẩm được miễn

Sau khi nhận hơn 1.600 ý kiến bằng văn bản và tổ chức các phiên điều trần từ ngày 7 đến 9/7 với hơn 100 nhân chứng, USTR quyết định bổ sung 471 nhóm sản phẩm vào danh mục miễn thuế so với phương án ban đầu.

Danh mục bổ sung gồm một số sản phẩm động vật, hạt giống, hàng rau quả, đường, cà phê hòa tan không hương liệu, đầu vào sản xuất phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, da và da thuộc, sản phẩm gỗ, phế liệu kim loại, thiết bị sản xuất bán dẫn, dược phẩm, quần áo đã qua sử dụng, đồ cổ và tác phẩm nghệ thuật.

Ngoài danh mục miễn áp dụng chung, USTR dành thêm một số miễn trừ theo từng nền kinh tế cho Argentina, Bangladesh, Campuchia, Ecuador, El Salvador, Liên minh châu Âu, Guatemala, Indonesia, Jordan, Malaysia, Thụy Sĩ, Đài Loan và Vương quốc Anh.

Việt Nam chỉ được hưởng các miễn trừ áp dụng chung tại Phụ lục I và Phụ lục II, Phần A.

Các hàng hóa và bộ phận hàng hóa thuộc diện chịu thuế theo Mục 232 cũng được miễn khoản thuế Mục 301 mới. Điều này không làm mất hiệu lực của thuế Mục 232 đang áp dụng đối với các sản phẩm đó.

Danh mục miễn trừ được xác định theo mã trong Biểu thuế hài hòa của Hoa Kỳ. Doanh nghiệp cần tra cứu mã HTSUS cụ thể, thay vì chỉ dựa trên tên thương mại của hàng hóa.

Thông báo quy định một ngoại lệ ngắn đối với hàng đã được xếp lên tàu tại cảng bốc và đang trên phương tiện vận chuyển cuối cùng trước 0 giờ 01 phút ngày 24/7 theo giờ miền Đông Hoa Kỳ.

Số hàng này không chịu thuế mới nếu được nhập khẩu để tiêu thụ hoặc rút khỏi kho để tiêu thụ trước 0 giờ 01 phút ngày 28/7.

Do thời hạn chỉ kéo dài bốn ngày, doanh nghiệp cần kiểm tra ngày xếp hàng, hành trình vận chuyển, thời điểm khai báo và hồ sơ chứng minh hàng đã ở trên chặng vận chuyển cuối cùng trước khi thuế có hiệu lực.

Các rủi ro thương mại khác chưa khép lại

Ngoài khoản thuế 12,5% liên quan đến lao động cưỡng bức, hàng hóa Việt Nam vẫn đứng trước một số tiến trình điều tra và biện pháp thương mại khác của Mỹ.

Ngày 29/5, USTR khởi động cuộc điều tra Mục 301 đối với các chính sách và hoạt động của Việt Nam trong bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Cuộc điều tra được tiến hành sau khi Việt Nam bị USTR xếp vào nhóm “quốc gia nước ngoài ưu tiên” trong Báo cáo Special 301 năm 2026. Đến ngày 24/7, USTR chưa công bố hành động cuối cùng trong vụ việc này.

Việt Nam cũng nằm trong nhóm các nền kinh tế bị điều tra về dư thừa năng lực sản xuất mang tính cơ cấu, được USTR khởi động ngày 11/3.

Bên cạnh đó, Mỹ đang áp dụng các biện pháp theo Mục 232 đối với nhiều nhóm sản phẩm như thép, nhôm, đồng, ô tô và linh kiện ô tô. Các biện pháp này vận hành độc lập với quyết định về lao động cưỡng bức ngày 23/7.

Khác với phụ thu tạm thời theo Mục 122, hành động theo Mục 301 không có thời hạn 150 ngày hoặc trần thuế suất 15%. Luật cho phép USTR duy trì, sửa đổi hoặc chấm dứt biện pháp sau các thủ tục rà soát theo quy định.

Ngày 22/7, Thượng nghị sĩ Ron Wyden giới thiệu dự luật Congressional Trade Powers Reform Act of 2026, đề xuất bãi bỏ thẩm quyền áp phụ thu theo Mục 122 và tăng quyền phê chuẩn của Quốc hội đối với các biện pháp thuế quan trong tương lai. Tuy nhiên, đây mới là dự luật được trình, chưa làm thay đổi hiệu lực của các mức thuế hiện hành.

Đàm phán thương mại Việt Nam - Mỹ tiếp tục

Tháng 10/2025, Việt Nam và Mỹ công bố tuyên bố chung về khuôn khổ một thỏa thuận thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng. Hai bên sau đó tiếp tục các vòng đàm phán nhưng chưa công bố thỏa thuận cuối cùng.

Ngày 23/7, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung gặp Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio bên lề Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 59 tại Manila.

Theo thông tin của Bộ Ngoại giao Việt Nam, hai bên trao đổi về quan hệ song phương và các vấn đề cùng quan tâm. Việt Nam tái khẳng định mong muốn tiếp tục phối hợp để thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và sớm hoàn tất các nội dung đang đàm phán.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Mỹ áp thuế 12,5% với hàng hóa Việt Nam, rủi ro còn tiềm ẩn?
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO