Đang tồn tại nhiều vấn đề khiến các giao dịch tài chính xanh còn hạn chế, trong khi nhu cầu từ dòng vốn xanh lại rất lớn.
Việc thống nhất một “ngôn ngữ” chung cho các giao dịch trở nên cần thiết và có ý nghĩa khơi thông dòng vốn xanh cho tăng trưởng cao và bền vững.
Diễn đàn Doanh nghiệp đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Hữu Hiệu - Tổng Giám đốc FiinGroup, xung quanh vấn đề này.

- Thưa ông, đang tồn tại những vấn đề nào khiến các giao dịch tài chính xanh bị hạn chế, trong khi nhu cầu thực tế lại rất lớn?
Có thể thấy hiện nay đang tồn tại 4 vấn đề khiến cho các giao dịch liên quan đến tài chính xanh chưa nhiều.
Thứ nhất, các cơ hội rất nhiều, tuy nhiên những cơ hội đạt chuẩn theo yêu cầu của nhà đầu tư đang rất thiếu, bởi vì các bên đang nói những ngôn ngữ khác nhau. Các cơ hội chưa được trình bày, diễn giải, hay thể hiện dưới những định dạng mà nhà đầu tư có thể hiểu hoặc thống nhất được để tiến đến giao dịch.
Thứ hai, mặc dù chúng ta đã có những quy định liên quan đến phân loại xanh theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, nhưng việc đo kiểm, xác nhận và đánh giá của bên thứ ba về mức độ xanh hoặc mức độ sẵn sàng của các dự án vẫn chưa có nhiều. Đó là một khoảng trống về mặt thông tin cần phải lấp đầy. Từ sự lấp đầy thông tin như vậy mới tạo ra cơ sở niềm tin để các bên có thể giao dịch với nhau.
Thứ ba là sự chênh lệch và khác biệt liên quan đến cấu trúc dự án so với yêu cầu của nhà đầu tư. Thông thường, các dự án xanh liên quan đến hạ tầng có yêu cầu nguồn vốn tương đối dài, trong khi các sản phẩm hiện có trên thị trường lại có kỳ hạn ngắn hơn. Đang có sự lệch pha giữa nguồn vốn với yêu cầu cung cấp vốn, cho nên các bên chưa thể giao dịch được với nhau.
Thứ tư là chưa có nhiều cơ chế và thiết chế trên thị trường đảm bảo cho các giao dịch vốn nhằm theo dõi xem nguồn vốn huy động xanh sau đó sẽ được thực thi, giải ngân, đo lường và mang lại tác động như thế nào? Hiện tại chưa có nhiều quy định liên quan đến đánh giá, theo dõi và kiểm soát việc giải ngân hậu giao dịch để đảm bảo đáp ứng đúng các cam kết của các bên khi tiến hành giao dịch. Đó là một số tồn tại hiện nay trên thị trường.
- Từ góc nhìn của đơn vị cung cấp hạ tầng công nghệ và dữ liệu, theo ông, cần giải quyết những rào cản đó như thế nào?
Từ kinh nghiệm của chúng tôi về phân tích dữ liệu, đánh giá cơ hội cũng như đánh giá độc lập, chúng tôi cho rằng có một số khoảng trống cần phải được lấp đầy. Trước hết đó là khoảng trống liên quan đến các chuẩn mực, cần nói chung một ngôn ngữ giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, vai trò của các bên thứ ba trong việc xác nhận và đánh giá độc lập cần được đẩy mạnh để đảm bảo các bên có thể dễ dàng hiểu nhau. Cơ hội phải được nhìn thấy, rủi ro phải được đánh giá, dòng tiền phải được kiểm chứng. Tất cả những điều đó là vai trò của các bên thứ ba, trong đó các công ty kiểm toán, xếp hạng tín nhiệm và đánh giá độc lập cần được củng cố hơn nữa để hỗ trợ tạo dựng niềm tin và cơ sở cho các bên tiến hành giao dịch. Ngoài ra, cần tiến tới hình thành các nền tảng chia sẻ dữ liệu liên quan đến kiểm đếm, chấm điểm và đánh giá độc lập để các bên có thể giao dịch một cách dễ dàng hơn.
- Vậy ông nhìn nhận như thế nào về vai trò của các thể chế mới, cụ thể như Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC) trong câu chuyện khơi thông dòng vốn xanh này?
Tôi cho rằng VIFC có vai trò rất quan trọng trong việc khơi thông dòng vốn nói chung và dòng vốn xanh nói riêng. Vai trò của VIFC là phải tạo ra các khuôn khổ pháp lý để hình thành nên thị trường. Thị trường đó đòi hỏi phải có những thiết chế và hạ tầng, bao gồm hạ tầng mềm, hạ tầng dữ liệu, hạ tầng minh bạch, và hạ tầng dịch vụ của các bên thứ ba trong việc đánh giá, kiểm đếm, xác nhận. Đồng thời, VIFC cần tạo ra những khuyến khích để các bên có được lợi ích rõ ràng khi tham gia giao dịch trong khuôn khổ của trung tâm tài chính.
Đối với Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC), tôi đánh giá cơ hội cụ thể còn lớn hơn. VIFC-HCMC có dư địa để thực sự trở thành một trung tâm luân chuyển dòng vốn mạnh mẽ, đặc biệt là vốn xanh. Đó chính là hướng đi mà VIFC-HCMC đang hướng tới. Chúng tôi mong muốn được đồng hành cùng VIFC-HCMC trong việc hình thành hạ tầng mềm, hạ tầng niềm tin, giúp giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin để các bên có chung một ngôn ngữ. Cơ hội đầu tư cần được nhìn thấy, đánh giá và chuẩn bị; mọi rủi ro đều phải được định lượng hóa, từ đó các giao dịch mới được tiến hành.
- Theo ước tính của FiinGroup, Việt Nam cần tới 700 tỷ USD cho lộ trình chuyển đổi dài hạn, thực thi cam kết Net Zero vào năm 2050. Nhìn từ góc độ doanh nghiệp, những đối tượng huy động vốn và chuyển đổi dòng vốn đó vào hoạt động cần lưu ý những vấn đề cụ thể nào, thưa ông?
Việc có dự án xanh mới chỉ là điều kiện cần. Để có dự án xanh mà nhà đầu tư có thể rót tiền và giải ngân thì đòi hỏi một số điều kiện đủ.
Thứ nhất là tính sẵn sàng của dự án, bao gồm việc chuẩn bị các nghiên cứu khả thi, phương án tài chính và đánh giá rủi ro.
Thứ hai là tính sẵn sàng liên quan đến hạ tầng phục vụ cho việc đánh giá, xác nhận, chấm điểm, xếp hạng của các bên thứ ba.
Thứ ba là các dịch vụ liên quan đến việc tiến hành giao dịch và theo dõi hậu giao dịch, trong đó có việc theo dõi giải ngân và đánh giá tác động sau khi các bên đã giao dịch với nhau.
Thứ tư là các sản phẩm tài chính, ví dụ như bảo lãnh, giúp tạo thanh khoản cho thị trường.
Đó cũng là những điều kiện đủ để VIFC-HCMC thực sự trở thành một trung tâm để các nguồn vốn, đặc biệt là vốn xanh, có thể chảy qua và hướng tới các dự án, cơ hội đầu tư xanh ở Việt Nam.
- Trân trọng cảm ơn ông!
Mặc dù Việt Nam đã có quy định liên quan đến phân loại xanh, nhưng việc xác nhận, đánh giá của bên thứ 3 về mức độ xanh của các dự án vẫn chưa có. Do đó, cần khắc phục vấn đề này.