Lợi ích từ Quyết định 1743/QĐ-NHNN, cho phép nới trần tiền gửi Kho bạc Nhà nước, sẽ lan tỏa vào nền kinh tế khi dư địa tăng trưởng tín dụng thực tế cùng tăng lên..

Xét trên tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước (KBNN) đang gửi, với Quyết định 1743/QĐ-NHNN cho phép nâng trần giới hạn lên 50% số dư tiền gửi có kỳ hạn của KBNN vào tổng tiền gửi, 4 ngân hàng vốn quốc doanh sẽ hưởng lợi.
Trước đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư 25/2026/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Thông tư này cho phép tiền gửi của tổ chức trong nước và nước ngoài (bao gồm cả tiền gửi của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác) được tính vào tổng tiền gửi, trừ 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của KBNN hoặc một tỷ lệ khác do Thống đốc NHNN quyết định trong từng thời kỳ.
Tại Thông tư này, NHNN đã nêu rõ “tỷ lệ khác… quyết định trong từng thời kỳ”. Theo đó, Quyết định 1743/QĐ-NHNN có thể xem là bước điều chỉnh kỹ thuật sau 40 ngày. Hay nói cách khác, NHNN đã linh hoạt “nới lỏng định lượng” - không cần hạ lãi suất điều hành hay bơm tái cấp vốn trực tiếp. Bằng cách nới mẫu số LDR, NHNN tạo thêm dư địa tín dụng cho hệ thống mà không phải in thêm cung tiền cơ sở.
Đây là quyết định phù hợp trong bối cảnh Nghị quyết 168/NQ-CP đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 2026 từ 10% trở lên nhưng vẫn phải giữ ổn định vĩ mô. Thực chất là phối hợp chính sách tiền tệ - tài khóa: dùng chính khoản tiền ngân sách nhàn rỗi (giải ngân đầu tư công chậm, tồn ngân) làm đòn bẩy tín dụng cho khu vực tư nhân.
Theo báo cáo tài chính (BCTC) quý II/2026, tổng tiền gửi của KBNN tại nhóm Big 4 gồm Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank vượt 700.000 tỷ đồng. Như vậy có thể ước tính Big 4 đang nắm khoảng 82–90% tổng tiền gửi KBNN của toàn hệ thống. Điều này cũng phù hợp với thực tế vì KBNN từ nhiều năm qua tập trung phần lớn nguồn tiền tại 4 ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước nhằm đảm bảo thanh khoản và an toàn hệ thống. Bởi vậy, nhóm này được hưởng lợi trực tiếp từ quyết định mới của NHNN khi tuân thủ hạch toán mới. Điều đó có nghĩa, VietinBank, Vietcombank và BIDV sẽ được tính khoảng 277.000 tỷ đồng tiền gửi có kỳ hạn của KBNN vào nguồn vốn huy động. Việc được bổ sung thêm lượng vốn lớn vào nguồn huy động sẽ hỗ trợ thanh khoản, giúp các ngân hàng trên có thêm dư địa để mở rộng cho vay mà vẫn không gây áp lực lên lãi suất.
Ngoài ra, do tại thuyết minh BCTC, một số tổ chức tín dụng (TCTD) có thể gộp mục "Tiền gửi của khách hàng" hoặc "Tiền gửi của KBNN và các tổ chức khác" nên chưa thể xác định các NHTM ngoài Big 4 có bao nhiêu tiền gửi có kỳ hạn của KBNN. Ước tính rằng khoảng 8-10% trong tổng số hơn 700.000 tỷ đồng được KBNN gửi tại nhóm NHTMCP, thì mỗi TCTD top đầu có thể có thêm vài nghìn tỷ nguồn vốn huy động được tính trong dư địa cho vay.
Trên bình diện lợi ích hệ thống và nền kinh tế, các ngân hàng vốn quốc doanh lẫn nhóm NHTM tư nhân top đầu cũng đang nắm thị phần tín dụng lớn, có năng lực cho vay, thu xếp, tài trợ vốn với các dự án trọng điểm quốc gia. Đích đến của dư địa tín dụng từ quy mô và chi phí vốn vừa được nới thêm, vì vậy có thể nhìn thấy rõ.
Theo nhóm chuyên gia ACBS, một số nguyên nhân đặc biệt từ môi trường lạm phát toàn cầu đã phần nào làm gián tiếp thu hẹp khả năng nới lỏng chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời phải cân bằng áp lực tỷ giá ngoại tệ và bối cảnh nội địa. Với chênh lệch huy động và dư nợ mà ACBS tính toán lên tới 2,7 triệu tỷ đồng, khoảng trống này càng làm gia tăng sự phụ thuộc của hệ thống ngân hàng vào thanh khoản trên kênh liên ngân hàng, đặc biệt là các đợt đấu thầu tiền gửi của KBNN tại các ngân hàng quốc doanh (số dư gần chạm ngưỡng theo luật định). Điều này khiến việc giảm lãi suất huy động và cho vay tiêu dùng đầu tư trở nên thách thức khi NHTM vẫn gặp khó trong việc duy trì các tỷ lệ an toàn vốn và thanh khoản.
Ông Đinh Đức Minh, Giám đốc đầu tư cấp cao của VinaCapital nhận định, trong ngắn hạn, lãi suất vẫn sẽ neo ở mức cao do nhu cầu vốn của nền kinh tế đang rất lớn. Hiện đang có nhiều dự án quy mô rất lớn trong lĩnh vực hạ tầng và bất động sản được triển khai, thậm chí là những dự án lớn nhất từ trước đến nay, tạo ra nhu cầu vốn khổng lồ.
Bên cạnh đó, tỷ lệ LDR của hệ thống ngân hàng đang ở mức 115%, nghĩa là cho vay đã vượt huy động. Vì vậy, để việc điều tiết có thể làm giảm lãi suất, Nhà nước cần đẩy nhanh chi tiêu ngân sách và giải ngân đầu tư công. Điều này giống như bơm thêm tiền vào nền kinh tế, đóng vai trò như một biện pháp nới lỏng tài khóa. Nếu Chính phủ thực hiện được điều này, đây sẽ là yếu tố giúp lãi suất ổn định hoặc có thể giảm nhẹ hơn.
Các chuyên gia cũng nhận xét về mặt truyền dẫn chính sách, Quyết định 1743/QĐ-NHNN là lựa chọn hợp lý. Nhưng đây là giải pháp "vay mượn thời gian" và rất cần phải có sự cộng hưởng tăng hiệu quả từ đẩy mạnh đầu tư công, phối hợp tài khóa. Mặt khác, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia - giảm chi phí cơ hội của tiền ngân sách nhàn rỗi cần được đi cùng cơ chế giám sát, quản lý chặt chẽ và chất lượng tín dụng đảm bảo.
Về dài hạn, việc công bố lộ trình chính sách LDR ổn định hơn cũng cần được tính đến các TCTD chủ động kế hoạch vốn. Cùng với đó, đẩy nhanh phát triển kênh vốn dài hạn phi ngân hàng giúp giảm áp lực lên hệ thống tín dụng và thúc đẩy sự phát triển tất yếu của thị trường vốn.