Doanh nghiệp

Doanh nghiệp

Đầu tư chuỗi lạnh, gia tăng sức cạnh tranh nông sản Việt

Quân Bảo 07/04/2026 09:50

Chuỗi lạnh thông minh đang trở thành yếu tố then chốt để giảm thiểu thất thoát nông sản.

Ngành nông thủy sản đang đóng một vai trò trụ cột trong nền kinh tế với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông lâm thủy sản đạt hơn 70 tỷ USD vào năm 2025, tăng trưởng 12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm hàng nông sản ghi nhận mức tăng 13,7% và nhóm thủy sản tăng 12,7%, phản ánh nhu cầu duy trì ở mức cao tại các thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Tuy nhiên, đi cùng với quy mô kim ngạch ngày càng lớn, ngành nông nghiệp đang phải đối mặt với một thách thức nội tại nghiêm trọng là tỷ lệ thực phẩm thất thoát trước khi đến tay người tiêu dùng lên tới 14%. Con số này tương đương với khoảng 526 triệu tấn thực phẩm bị tổn thất mỗi năm do thiếu hụt hệ thống làm lạnh đồng bộ, một lượng lương thực đủ để nuôi sống khoảng một tỷ người trên toàn thế giới, theo số liệu TS Nguyễn Thắng Lợi - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam (VLI) – đưa ra.

a.jpg
Ngành nông nghiệp đang đối mặt với tỷ lệ thực phẩm thất thoát trước khi đến tay người tiêu dùng lên tới 14%

Tình hình thực trạng hạ tầng hậu cần lạnh tại Việt Nam hiện nay bộc lộ những khoảng trống đáng kể ngay tại các công đoạn sơ chế và vận chuyển sau thu hoạch. Các báo cáo chuyên ngành chỉ ra rằng sự đứt gãy thường xảy ra mạnh nhất ở giai đoạn di chuyển từ nông trại đến hệ thống kho lưu trữ tập trung. Thay vì sử dụng các thiết bị bảo ôn chuyên dụng, phần lớn nông sản vẫn được vận chuyển bằng xe tải thông thường, gây ra nguy cơ hư hỏng cao trước khi kịp tiếp cận các quy trình bảo quản tiêu chuẩn.

Sự mất cân đối về địa lý cũng là một rào cản lớn khi hệ thống kho lạnh hiện nay tập trung quá mức tại khu vực phía Nam với khoảng 845.000 vị trí pallet và 39 kho lạnh lớn, nhưng lại vô cùng mỏng tại các vùng vựa nông sản trọng điểm thuộc Đồng bằng sông Cửu Long như địa phận thuộc Hậu Giang (cũ), Cần Thơ (cũ) hay Vĩnh Long (cũ).

Mặc dù Việt Nam đã có những bước tiến khi sở hữu khoảng 117 cơ sở kho lạnh chuyên nghiệp với 1,3 triệu vị trí pallet và đội xe lạnh gồm 1.499 phương tiện, nhưng chỉ số trưởng thành về số pallet lạnh trên 10.000 dân vẫn còn khoảng cách xa so với các quốc gia trong khu vực. Cụ thể, Việt Nam hiện đạt mức 132 pallet trên 10.000 dân, trong khi con số này tại Thái Lan là khoảng 204 pallet. Điều này cho thấy dư địa đầu tư vào hạ tầng lạnh chuyên sâu tại thị trường nội địa là rất lớn, nhất là khi quy mô thị trường hiện tại mới chỉ đạt mức ước tính khoảng 202 triệu USD, theo TS Nguyễn Thắng Lợi.

Bên cạnh áp lực về hạ tầng, ngành chuỗi lạnh đang đứng trước yêu cầu cấp bách về việc giảm phát thải môi trường, khi lĩnh vực này hiện đóng góp khoảng 4% tỷ trọng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Các áp lực từ quy định quốc tế về kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải cacbon đã trở thành tấm giấy thông hành bắt buộc để nông sản Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào các thị trường khó tính như Châu Âu.

TS Nguyễn Thắng Lợi cho biết, kế hoạch hành động làm lạnh quốc gia (NCAP) đã được định hình với tám nội dung trọng tâm nhằm xây dựng một hệ thống đồng bộ thay vì cách tiếp cận rời rạc như trước đây. Lộ trình này tập trung vào việc chuyển đổi môi chất lạnh tự nhiên, tối ưu hóa kiến trúc thụ động và thiết lập các tiêu chuẩn năng lượng khắt khe cho hệ thống hạ tầng mới. Một trong những điểm sáng công nghệ đang được định hướng triển khai mạnh mẽ là việc ứng dụng bản sao kỹ thuật số (Digital Twin) để mô phỏng và nhân rộng các mô hình kho bãi thông minh mà không cần đầu tư quá lớn vào các mô hình vật lý thử nghiệm. Đồng thời, việc tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT) giúp doanh nghiệp không chỉ biết chính xác vị trí hàng hóa mà còn dự báo được thời điểm cần thiết nhất để can thiệp giữ lạnh, từ đó tối ưu hóa hiệu suất năng lượng.

Sự thay đổi về mô hình dịch vụ cũng đang tạo ra những động lực mới cho thị trường. Mô hình dịch vụ làm lạnh theo yêu cầu (Cooling as a Service - CaaS) được đánh giá là giải pháp hiệu quả để giảm áp lực đầu tư ban đầu cho các doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy việc ứng dụng năng lượng xanh như điện áp mái và các vật liệu chuyển pha (PCM) để lưu trữ năng lượng. Việc thuê ngoài dịch vụ chuỗi lạnh tại Việt Nam hiện chiếm tỷ lệ rất cao, lên tới 80% so với mức dưới 50% của các dịch vụ logistics thông thường, minh chứng cho sự chuyên nghiệp hóa ngày càng tăng của phân khúc này.

Để thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược này, theo ông Đặng Vũ Thành – Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) – thì sự phối hợp đa bên giữa các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và các đơn vị logistics là điều kiện tiên quyết. Các chuyên gia nhấn mạnh rằng nếu không chủ động xây dựng chuỗi cung ứng xanh và đồng bộ ngay từ đầu, việc tái đầu tư trong tương lai sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn kém. Việc làm chủ công nghệ làm lạnh và bao bì không chỉ giúp doanh nghiệp bảo vệ chất lượng sản phẩm mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh vượt trội để chiếm lĩnh các thị trường quốc tế. Những tổ chức biết tận dụng các giải pháp công nghệ mềm để tối ưu hóa lộ trình và kiểm soát biểu đồ nhiệt độ chính xác cho các mặt hàng đặc thù như rau quả, thực phẩm y tế hay vắc xin sẽ là những người dẫn dắt cuộc chơi trong tương lai.

Việc bịt kín “lỗ hổng” thất thoát 14% thực phẩm không chỉ đơn thuần là bài toán về lợi nhuận kinh tế mà còn là trách nhiệm đối với an ninh lương thực và môi trường toàn cầu. “Sự kết hợp giữa hạ tầng hiện đại, công nghệ số và khung chiến lược quốc gia đồng bộ sẽ là chìa khóa để nông sản Việt Nam không chỉ bứt phá về giá trị mà còn xác lập được niềm tin bền vững đối với người tiêu dùng trên toàn cầu”, ông Đặng Vũ Thành nói.

Quân Bảo