Tín dụng - Ngân hàng
Lợi nhuận ngân hàng tiếp tục duy trì trong 2026?
Dự báo toàn ngành và nhiều ngân hàng sẽ đối mặt áp lực thanh khoản. Lợi nhuận ngân hàng có bị ảnh hưởng trong năm 2026?
Cùng với việc điều tiết tăng trưởng tín dụng (19% xuống còn 15% theo kịch bản Ngân hàng Nhà nước đặt ra), các ngân hàng sẽ chịu áp lực thanh khoản đáng kể. Yếu tố này sẽ chi phối đáng kể triển vọng lợi nhuận ngân hàng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đòi hỏi sự chọn lọc hơn.

Lợi nhuận ngân hàng duy trì dù NIM phân hóa
Từ cuối năm 2025 - đầu năm 2026 đến nay, áp lực thanh khoản đã hiện hữu rõ trong hệ thống ngân hàng, đặc biệt ở các ngân hàng nhỏ có sự phụ thuộc nhất định vào nguồn vốn vay trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất huy động tăng trong khi lãi suất cho vay khó tăng tương ứng khiến tỷ lệ biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng bị suy giảm.
Tại báo cáo về ngành ngân hàng mới đây của FiinRatings, ông Nguyễn Quang Thuân, FCCA, Chủ tịch HĐQT FiinGroup cùng các cộng sự Khối Nghiên cứu - Phân tích, FiinRatings, nhận định: NIM toàn ngành có thể sẽ duy trì dưới 3,0% trong năm 2026, chịu áp lực từ chi phí vốn cao hơn và lợi suất cho vay bị thu hẹp. Ngược lại, việc tập trung vào cho vay kỳ hạn dài hơn và tín dụng tiêu dùng có thể giúp duy trì NIM ở mức tương đương năm 2025.
NIM có sự phân hóa theo nhóm ngân hàng. Cụ thể, đối với nhóm 4 ngân hàng cổ phần lớn (VPBank, Techcombank, MB, ACB), NIM có khả năng ổn định (được hỗ trợ bởi CASA cao hơn), ROA duy trì trên mức trung bình ngành nhưng thấp hơn đỉnh năm 2022; ngày càng phụ thuộc vào thu nhập ngoài lãi.
Với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước (Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank), NIM có xu hướng giảm nhẹ do tiếp tục hỗ trợ lãi suất cho khách hàng. Hoạt động ngoại hối, vàng và thu hồi nợ trở thành nguồn thu chính.
Các ngân hàng cổ phần khác: NIM sẽ phân hóa giữa các ngân hàng có và không có khả năng thu hút/khai thác khách hàng bán lẻ và có vị thế mạnh trong các mảng thu nhập ngoài lãi nhất định.
Ngân hàng tăng xóa nợ
Nợ có vấn đề tiếp tục giảm trong năm 2025 từ đỉnh năm 2023: Tỷ lệ nợ xấu (NPL) toàn ngành khoảng 1,9% năm 2025, duy trì so với hai năm trước; SML giảm xuống khoảng 1,2% cuối năm 2025 (từ khoảng 1,9% năm 2024), cho thấy số lượng khoản vay cảnh báo sớm giảm. Sự cải thiện này chủ yếu đến từ tăng trưởng tín dụng nhanh và xóa nợ đáng kể.
Tỷ lệ xóa nợ ròng trên dư nợ cho vay bình quân tăng lên 1,3%, cao hơn nhẹ so với mức ổn định 1,2% giai đoạn 2023–2024. Trong năm 2026, chuyên gia FiinRatings cho biết không kỳ vọng các ngân hàng sẽ xóa nợ mạnh như các năm trước; thay vào đó, trái phiếu VAMC có thể quay trở lại như một công cụ hỗ trợ quản lý chất lượng tài sản.
Mức trích lập dự phòng cuối năm 2025 ở mức thấp nhất kể từ 2021, phản ánh việc các ngân hàng dựa nhiều hơn vào xóa nợ và thu hồi nợ thay vì chỉ gia tăng dự phòng.
Tăng trưởng tín dụng (19,0%) tiếp tục vượt tăng trưởng tiền gửi (11,4%) trong năm 2025, khiến các ngân hàng tiếp tục phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng và phát hành trái phiếu. Sau hai năm tăng trưởng nhanh, chúng tôi dự báo toàn ngành và nhiều ngân hàng sẽ đối mặt áp lực thanh khoản đáng kể trong suốt năm 2026.
Chờ thời gian cân đối cơ cấu vốn
Chi phí vốn tăng vào cuối năm 2025 và có khả năng tiếp tục tăng trong năm 2026. Trong bối cảnh nhiều ngân hàng phụ thuộc đáng kể vào nguồn vốn bán buôn và phần lớn tiền gửi khách hàng là ngắn hạn (<1 năm), các ngân hàng có thể sẽ tăng lãi suất tiền gửi đáng kể trong năm nay để thu hút nguồn vốn, đặc biệt là kỳ hạn dài hơn. Lãi suất chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu cũng sẽ tăng để giúp ngân hàng đảm bảo nguồn vốn dài hạn.
Ở tất cả các nhóm, các chỉ tiêu vốn và lợi nhuận phần lớn suy giảm. Ở nhóm ngân hàng hạng [a], sự sụt giảm đáng kể của tỷ lệ bao phủ dự phòng và LLR dù đã xóa nợ mạnh cho thấy bộ đệm chống lại áp lực chất lượng tài sản tiếp tục mỏng hơn và phụ thuộc nhiều hơn vào tài sản đảm bảo và thu hồi nợ.
Các chỉ tiêu chất lượng tài sản cho thấy sự phân hóa không đồng nhất khi các ngân hàng nhóm ([aa] và [bbb]) cải thiện trong khi các ngân hàng nhóm ([a] và [bb trở xuống]) suy giảm, trong khi các chỉ tiêu lợi nhuận lại cho thấy xu hướng ngược lại, phản ánh chiến lược khác nhau của các ngân hàng trong giai đoạn tăng trưởng cao.
Tỷ lệ vốn CET1 trên tổng tài sản của các ngân hàng thương mại nhà nước (6,4%) cho thấy cải thiện ở mức vừa phải nhưng vẫn thấp hơn so với nhóm 4 ngân hàng cổ phần lớn (11,1%) và các ngân hàng cổ phần (7,8%), cho thấy điểm yếu cấu trúc về vốn của khối ngân hàng thương mại nhà nước dù đóng vai trò hệ thống. Tỷ lệ bao phủ dự phòng cải thiện ở các ngân hàng thương mại nhà nước (157%) và nhóm ngân hàng cổ phần lớn (104%) nhưng thấp ở các ngân hàng cổ phần khác (52%), cho thấy bộ đệm yếu hơn trước các cú sốc tín dụng ở nhóm ngân hàng tư nhân trung bình và nhỏ.
Theo FiinRatings, mặc dù nhóm 4 ngân hàng cổ phần lớn có tỷ lệ tiền gửi trên tổng nguồn vốn thấp hơn (62%) so với các ngân hàng cổ phần nhỏ hơn (66%), họ có cơ cấu nguồn vốn đa dạng hơn và chi phí vốn thấp hơn, một phần nhờ các công cụ giấy tờ có giá và vị thế trên thị trường liên ngân hàng.
Đến thời điểm hiện nay, sau chỉ đạo của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn với các Ngân hàng trong hệ thống về cân đối - sử dụng nguồn vốn, tiết giảm chi phí, đảm bảo ổn định lãi suất, đã có 26 ngân hàng thực hiện đúng cam kết hạ lãi suất huy động từ 0,5-1%. Nhiều ngân hàng đã hạ lãi suất cho vay từ 0,5% đến 3%.
Tuy nhiên, để lãi suất huy động, cho vạy thiết lập mặt bằng thấp và ổn định, vẫn cần các yếu tố bên ngoài lẫn việc cơ cấu lại nguồn vốn của các ngân hàng theo thời gian đạt điểm hòa vào giá vốn mới. Các kế hoạch tăng vốn của các ngân hàng gần đây cũng kỳ vọng sớm được thúc đẩy sau mùa Đại hội cổ đông thường niên, nhanh chóng bổ trợ cho ngân hàng vừa đảm bảo "bộ đệm" dày dặn, vừa có cơ hội tăng tốc mở rộng kinh doanh trong 3 quý còn lại của năm.