Doanh nghiệp

Doanh nghiệp

Doanh nghiệp gỗ Việt tăng tốc đáp ứng “luật chơi” mới từ EU

Thy Hằng 25/05/2026 03:23

Loạt yêu cầu kỹ thuật từ Hiệp định VPA, Quy định EUDR đang khiến doanh nghiệp gỗ Việt Nam đẩy nhanh truy xuất nguồn gốc, số hóa dữ liệu và hoàn thiện chuỗi cung ứng để giữ lợi thế xuất khẩu.

Việt Nam là quốc gia thứ hai tại châu Á ký kết Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) với Liên minh châu Âu (EU), tạo nền tảng quan trọng để ngành gỗ đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe về nguồn gốc và tính hợp pháp của sản phẩm xuất khẩu.

nganh-go-1644465241240155264675-1.jpg
Việt Nam là quốc gia thứ hai tại châu Á ký kết Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) với Liên minh châu Âu

Chuyên gia nhấn mạnh, tên hiệp định lúc đầu chỉ có tính “tự nguyện” đáp ứng, nhưng giờ đây, với xu hướng sống xanh, thương mại xanh, thị trường và người tiêu dùng EU muốn sản phẩm gỗ nhập khẩu phải đáp ứng các quy định khá nghiêm ngặt, thị trường châu Âu đủ lớn để biến “tự nguyện” thành “bắt buộc”.

Cụ thể, Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) là hiệp định thương mại mang tính ràng buộc pháp lý nhằm cải thiện quản trị rừng và thúc đẩy thương mại gỗ hợp pháp giữa Việt Nam và EU. Theo quy định, các quốc gia muốn xuất khẩu gỗ sang EU cần xây dựng hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp (VNTLAS), xác minh nguồn gốc sản phẩm và chỉ những lô hàng đáp ứng yêu cầu mới được cấp giấy phép FLEGT để xuất khẩu.

Loạt tiêu chí này bao gồm: Khai thác gỗ trong nước tuân thủ các quy định về quyền sử dụng đất, sử dụng rừng, quản lý, môi trường và xã hội, xử lý gỗ tịch thu, nhập khẩu gỗ, vận chuyển, mua bán, chế biến gỗ, xuất khẩu, quy định về thuế và người lao động… Các tiêu chí nêu trên trở thành rào cản kỹ thuật lớn với doanh nghiệp xuất khẩu gỗ của nhiều nước đang phát triển như Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam.

Ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, Việt Nam là quốc gia thứ hai ở châu Á, sau Indonesia, ký kết VPA với EU. Đây được xem là bước chuẩn bị sớm giúp ngành gỗ tạo nền tảng để đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường này.

unnamed (9)
Doanh nghiệp gỗ Việt Nam cũng đang phải nhanh chóng thích ứng và đối mặt với thách thức kỹ thuật từ việc triển khai Quy định chống mất rừng (EUDR)

Cùng với VPA, doanh nghiệp gỗ Việt Nam cũng đang phải nhanh chóng thích ứng và đối mặt với thách thức kỹ thuật từ việc triển khai Quy định chống mất rừng (EUDR). Có thể thấy, yêu cầu kỹ thuật đang ngày càng được siết chặt.

Theo ông Hoài, thời gian qua Việt Nam đã tập trung hoàn thiện khung khổ chính sách, tăng cường kiểm tra, quản lý theo hướng tiệm cận với các yêu cầu của EU. “Chúng ta đã có sự chuẩn bị khá bài bản. Việc cấp phép FLEGT cho từng lô hàng xuất khẩu vẫn đang được bàn thảo về cơ chế áp dụng sao cho đồng bộ với EUDR – quy định chống mất rừng và suy thoái rừng của EU”, ông Hoài nói.

Được biết, để thực hiện EUDR, doanh nghiệp phải đáp ứng hai yêu cầu quan trọng. Thứ nhất là thực hiện tuyên bố thẩm định trách nhiệm giải trình (DDS) về nguồn gốc gỗ.

Thứ hai là thiết lập hệ thống bằng chứng điện tử, bao gồm tọa độ địa lý của khu vực khai thác nhằm chứng minh nguyên liệu không có nguồn gốc từ hoạt động phá rừng hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng tự nhiên.

Tuy nhiên, theo đại diện Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, đây cũng là thách thức lớn về mặt kỹ thuật đối với doanh nghiệp trong ngành.

“Hiện doanh nghiệp gỗ Việt Nam đã quen với việc dẫn chiếu nguồn gốc nguyên liệu, từ nông dân, thương lái đến doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Tuy nhiên, việc xây dựng và vận hành hệ thống dữ liệu điện tử để bảo đảm truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu mới vẫn cần thêm thời gian”, ông Hoài cho biết.

Ông cũng cho rằng việc xây dựng cơ chế hợp tác giữa các bên trong chuỗi cung ứng là yếu tố quan trọng để đáp ứng yêu cầu mới của EU. Nếu triển khai hiệu quả, quá trình này không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng quy định mà còn tạo lợi ích cho toàn bộ hệ sinh thái ngành gỗ.

“Doanh nghiệp cần xây dựng văn bản hướng dẫn cụ thể cho các chủ thể liên quan để cùng ứng dụng và bảo đảm tuân thủ EUDR. Nếu thực hiện tốt, đây có thể trở thành mô hình cùng có lợi cho cả các bên trong chuỗi”, ông Hoài nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, TS Trương Tất Đơ, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, EUDR không dừng ở hồ sơ giấy tờ mà chuyển sang kiểm soát bằng dữ liệu không gian và công nghệ viễn thám. Việc khai báo thiếu chính xác hoặc không trung thực sẽ dễ dàng bị phát hiện khi đối chiếu trên hệ thống độc lập của EU.

Theo cơ quan chuyên môn, giải pháp căn cơ là xây dựng nền tảng tích hợp dữ liệu không gian, chồng ghép bản đồ ranh giới rừng tại mốc 31/12/2020 với bản đồ vùng nguyên liệu, qua đó phân loại khu vực rủi ro và kiểm soát từ đầu vào.

Trong bối cảnh dữ liệu vệ tinh ngày càng công khai và chính xác, việc “né tránh” là không khả thi. Con đường duy nhất là kê khai trung thực, chuẩn hóa dữ liệu và quản trị chuỗi cung ứng theo chuẩn quốc tế.

Theo đánh giá của các chuyên gia, dù sản lượng gỗ xuất khẩu sang EU hiện chưa chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng đây là “thị trường tiêu chuẩn”. Khi đáp ứng được yêu cầu của thị trường EU, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn khi tiếp cận các thị trường cao cấp khác bởi đây là chuẩn mực tham chiếu về phát triển bền vững và minh bạch chuỗi cung ứng.

GS TS Võ Đại Hải, Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đánh giá, cần đẩy mạnh hoạt động số hóa vùng trồng rừng gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu cho các chủ rừng trên phạm vi toàn quốc sẽ đáp ứng yêu cầu quốc tế về việc minh bạch hóa thông tin nguồn gốc sản phẩm và công nghệ để tạo ra sản phẩm.

Thy Hằng