Nghiên cứu - Trao đổi
Mở rộng tài sản bảo đảm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đề xuất cho phép doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng quyền sở hữu trí tuệ... và các loại quyền tài sản hợp pháp khác để bảo đảm tiền vay đang thu hút sự quan tâm lớn từ cộng đồng doanh nghiệp.
Trong Hồ sơ Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sửa đổi (Dự thảo) đang được lấy ý kiến, Bộ Tài chính đề xuất nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ nút thắt tiếp cận vốn cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Một trong những nội dung đáng chú ý là khuyến khích các tổ chức tín dụng đa dạng hóa tài sản bảo đảm, không chỉ giới hạn ở bất động sản hay tài sản hữu hình như hiện nay.

Theo Dự thảo, ngoài các tài sản hữu hình như bất động sản, doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, tài sản số, tài sản ảo và các loại tài sản hợp pháp khác để tiếp cận vốn vay. Cơ quan soạn thảo cũng đề xuất khuyến khích các ngân hàng thương mại mở rộng cho vay dựa trên xếp hạng tín nhiệm, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng mở rộng thị trường hoặc dòng tiền của doanh nghiệp.
Theo Bộ Tài chính, việc mở rộng cơ chế bảo đảm tín dụng nhằm khơi thông nguồn lực cho khu vực kinh tế tư nhân, phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Thực tế hiện nay, khó khăn lớn nhất của nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa là thiếu tài sản bảo đảm, trong khi bất động sản vẫn đang chiếm tỉ trọng áp đảo trong danh mục tài sản thế chấp tại các ngân hàng. Điều này khiến phần lớn doanh nghiệp nhỏ, startup công nghệ hoặc doanh nghiệp đổi mới sáng tạo gặp khó trong tiếp cận vốn tín dụng dù có ý tưởng, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh tiềm năng.
Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp đang sở hữu nhiều phần mềm, cơ sở dữ liệu khách hàng và các giải pháp công nghệ được đăng ký bảo hộ nhưng gần như không thể sử dụng để tiếp cận tín dụng. Ngân hàng thường chỉ quan tâm đến tài sản hữu hình. Trong khi đó, doanh nghiệp công nghệ lại phát triển dựa trên tài sản vô hình. Nếu có cơ chế công nhận và định giá các tài sản này, doanh nghiệp sẽ có thêm nguồn lực để đầu tư nghiên cứu và mở rộng thị trường.
Xoay quanh đề xuất này, PGS TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp - Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng, đây là đề xuất có ý nghĩa rất lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Theo ông Lạng, phần lớn doanh nghiệp công nghệ hiện nay không sở hữu nhiều tài sản hữu hình để thế chấp. Giá trị cốt lõi của họ nằm ở công nghệ, dữ liệu, phần mềm, thương hiệu hoặc các sáng chế, giải pháp kỹ thuật. Tuy nhiên, những tài sản này lại chưa được hệ thống tín dụng nhìn nhận đầy đủ.

"Nhiều doanh nghiệp có sản phẩm tốt, thị trường tiềm năng nhưng không vay được vốn vì không có bất động sản thế chấp. Nếu pháp luật cho phép sử dụng tài sản trí tuệ hoặc các loại tài sản số hợp pháp làm tài sản bảo đảm, cơ hội tiếp cận vốn của doanh nghiệp sẽ được cải thiện đáng kể", ông Lạng nhận định.
Dù đánh giá cao chủ trương mở rộng tài sản bảo đảm, nhiều chuyên gia cho rằng thách thức lớn nhất nằm ở việc xác định giá trị và khả năng xử lý các loại tài sản này khi phát sinh rủi ro. TS Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam cho rằng, việc chấp nhận tài sản số hay quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm là xu hướng tất yếu trong nền kinh tế số. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật cần đi trước một bước trong việc xây dựng cơ chế định giá và đăng ký giao dịch bảo đảm.
"Đối với bất động sản, ngân hàng có thể dễ dàng xác định giá trị và xử lý tài sản khi phát sinh nợ xấu. Nhưng với dữ liệu, phần mềm, sáng chế hay tài sản số, việc định giá và thanh khoản phức tạp hơn rất nhiều. Nếu không có tiêu chuẩn định giá rõ ràng, các tổ chức tín dụng sẽ khó mạnh dạn triển khai", ông Quý phân tích.
Đồng quan điểm, các chuyên gia cho rằng, nhiều quốc gia đã cho phép sử dụng tài sản trí tuệ, quyền khai thác dữ liệu hoặc dòng tiền tương lai làm tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, các nước đều xây dựng hệ thống định giá chuyên nghiệp và cơ sở dữ liệu minh bạch để giảm thiểu rủi ro cho bên cho vay. Việt Nam cần sớm hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số, cơ chế đăng ký quyền sở hữu, chuyển nhượng và xử lý tài sản khi phát sinh tranh chấp. Đồng thời, cần phát triển thị trường định giá tài sản trí tuệ và các tổ chức trung gian chuyên nghiệp để hỗ trợ ngân hàng đánh giá rủi ro.