Chuyên đề
Tín dụng cho doanh nghiệp tiên phong: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Dự thảo thông tư về chương trình hỗ trợ 1.000 doanh nghiệp tiên phong - nhóm có khả năng dẫn dắt, lan tỏa công nghệ, chuỗi giá trị như thông tin từ Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính)
Đây là chính sách hết sức quan trọng, góp phần cụ thể hóa quyết định của Thủ tướng, hướng tới phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong đến năm 2030. Trong đó, nhà điều hành đặt mục tiêu hình thành 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, tối thiểu 200 doanh nghiệp tăng trưởng bứt phá.
LTS: Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam phải tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo, năng lực nội sinh và sức mạnh của doanh nghiệp. Những chính sách ưu tiên có tính chọn lọc cao, không dàn trải, sẽ góp phần thúc đẩy nội lực cho mục tiêu nâng chất tăng trưởng, hướng đến tăng trưởng cao và bền vững. Xây dựng chính sách tín dụng cho doanh nghiệp tiên phong là một trong những chính sách cần thiết như vậy.

Lãnh đạo Bộ Tài chính cho rằng chính sách hỗ trợ của Chính phủ đã chuyển từ tính dàn trải sang tính chọn lọc. Nguồn lực hỗ trợ luôn có giới hạn, chính sách cần ưu tiên đúng nhóm doanh nghiệp, đúng nhu cầu và thời điểm. Điều này đặt ra các vấn đề lớn về tạo “đòn bẩy”, hiện thực các tầm nhìn lớn đối với sứ mệnh doanh nghiệp.
Bài học quốc tế về doanh nghiệp SMEs
Sau gần 40 năm đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân đã trở thành một trong những lực lượng quan trọng nhất của nền kinh tế, đóng góp lớn vào GDP, tạo việc làm, mở rộng thị trường và hình thành nhiều thương hiệu Việt có khả năng cạnh tranh trong khu vực. Tuy nhiên, để Việt Nam tiến tới mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045, kinh tế tư nhân không thể chỉ phát triển theo chiều rộng, dựa vào bất động sản, thương mại ngắn hạn hoặc gia công giá trị thấp. Vấn đề trung tâm là phải xây dựng một chiến lược phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam theo hướng hiện đại, minh bạch, có năng lực công nghệ, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và có khát vọng vươn ra thế giới. Đây có thể xem là tiền đề của các chính sách kích hoạt kế hoạch “hậu thuẫn” cho 1.000 doanh nghiệp tiên phong trong nền kinh tế.
Trên thực tế, nhiều quốc gia đi trước cũng đã có những chủ trương, bài học tương tự để Việt Nam có thể tham cứu, học hỏi, rút kinh nghiệm.
Bài học lịch sử từ Nhật Bản, quốc gia đã đặc biệt thành công trong việc phát triển mạng lưới doanh nghiệp nhỏ và vừa gắn với các tập đoàn lớn. Các doanh nghiệp vệ tinh không chỉ cung cấp linh kiện đơn giản, mà dần trở thành những nhà cung ứng chuyên sâu, có công nghệ, có tiêu chuẩn chất lượng cao, có năng lực cải tiến liên tục. Đây là điểm Việt Nam rất cần học hỏi. Nếu các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước chỉ tồn tại rời rạc, thiếu liên kết với doanh nghiệp lớn và FDI, họ sẽ khó nâng cấp công nghệ.
Cũng từ Nhật Bản, bài học về chú trọng đầu tư vào con người và quản trị, mà chương trình đào tạo 10.000 CEO như Bộ Tài chính dự kiến triển khai, có thể tham cứu. Đó là các phương pháp quản trị như Kaizen, quản lý chất lượng toàn diện, sản xuất tinh gọn, cải tiến liên tục đã giúp doanh nghiệp Nhật nâng năng suất từ bên trong. Với Việt Nam, điều này có nghĩa là hỗ trợ doanh nghiệp không chỉ bằng vốn hay ưu đãi thuế, mà còn bằng tư vấn quản trị, đào tạo kỹ sư, đào tạo quản lý cấp trung, hỗ trợ chuyển đổi số và xây dựng tiêu chuẩn chất lượng.
Tuy nhiên, Nhật Bản cũng cho Việt Nam một bài học cảnh báo về việc có thể chậm thích ứng sẽ làm giảm động lực. Vì vậy, Việt Nam cần đi nhanh hơn trong đầu tư vào tài sản vô hình, năng lực số và nguồn nhân lực mới - như định hướng của chính sách định vị “tiên phong” về “số” - theo Nghị quyết 57.
Doanh nghiệp tiên phong và doanh nghiệp lớn
Một bài học khác từ Hàn Quốc, ví dụ nổi bật về việc phát triển các Tập đoàn tư nhân lớn có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Những doanh nghiệp như Samsung, Hyundai, LG đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nghèo sau chiến tranh trở thành nền kinh tế công nghiệp phát triển. Thành công này đến từ sự kết hợp giữa chiến lược công nghiệp rõ ràng, hỗ trợ có điều kiện của Nhà nước, áp lực xuất khẩu và yêu cầu doanh nghiệp phải cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Tại Nghị quyết 68, bên cạnh hiện thực hóa mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp, Bộ Chính trị đã đặt ra mục tiêu có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Nghị quyết 79 cũng đặt ra mục tiêu phấn đấu có 50 doanh nghiệp Nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1-3 doanh nghiệp Nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Hợp lực khu vực Nhà nước - tư nhân, thúc đẩy doanh nghiệp tham gia tiên phong dẫn dắt những lĩnh vực như bán dẫn, công nghiệp ô tô, năng lượng tái tạo, hạ tầng số, đường sắt tốc độ cao, logistics toàn cầu hay công nghệ cao, không thể chỉ dựa vào các doanh nghiệp SMEs. Việt Nam rõ ràng cần phải có những tập đoàn tư nhân đủ vốn, đủ năng lực quản trị, đủ tầm nhìn dài hạn và đủ khả năng phối hợp với Nhà nước trong các dự án chiến lược.
Tuy nhiên, bài học Hàn Quốc cũng cho thấy cần tránh mặt trái, hạn chế của mô hình hoạt động kinh doanh của các Tập đoàn quá lớn. Do đó, Việt Nam cần hỗ trợ doanh nghiệp lớn nhưng phải gắn với minh bạch, cạnh tranh, hiệu quả đầu tư, trách nhiệm lan tỏa và quản trị hiện đại. Chính sách ưu đãi không nên là đặc quyền vĩnh viễn, mà phải là hợp đồng phát triển có điều kiện: được hỗ trợ khi tạo ra công nghệ, việc làm chất lượng, xuất khẩu, liên kết doanh nghiệp nội địa và đóng góp vào mục tiêu quốc gia.
Có thể nói, trọng tâm của chính sách hướng đến 1.000 doanh nghiệp tiên phong, đang đặt ra không phải là chạy theo số lượng doanh nghiệp, mà là nâng chất lượng doanh nghiệp. Một nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp nhỏ nhưng ít doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh toàn cầu sẽ khó tạo đột phá về năng suất. Vì vậy, để kiến tạo sự đột phá, còn cần đồng bộ đột phá thể chế và gắn sự gạn lọc để thiết kế chính sách từng nhóm, theo mục tiêu không là câu chuyện lợi nhuận mà còn là khát vọng xây dựng thương hiệu Việt, năng lực tự cường quốc gia và trách nhiệm xã hội của mỗi doanh nhân, doanh nghiệp. Việc thiết kế chính sách sao cho phân bổ phù hợp, công bằng, nghiêm minh, trúng đích tạo chiều sâu cho kinh tế và nâng cấp nội lực quốc gia, còn có thể kích thích giải phóng tiếp những nguồn lực xã hội tiềm năng khác.