Kinh tế
Điều hành chính sách linh hoạt giảm áp lực lạm phát cuối năm
Sức ép từ giá năng lượng, chi phí đầu vào, nhu cầu tiêu dùng tăng cao… khiến lạm phát cuối năm đối mặt nhiều áp lực gia tăng.
Theo Cục Thống kê, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa giữ ổn định mặt bằng giá trong nửa cuối năm, cần tiếp tục theo dõi sát diễn biến kinh tế thế giới, nhất là các yếu tố có thể tác động đến lạm phát nhằm chủ động cập nhật các kịch bản điều hành.
Lạm phát trong tầm kiểm soát
6 tháng đầu của năm, dù chịu nhiều tác động từ bên ngoài song Cục Thống kê đánh giá, mặt bằng giá trong nước vẫn cơ bản được kiểm soát. Trong tháng 6, CPI giảm 0,39% so với tháng trước nhờ giá xăng dầu giảm theo diễn biến của thị trường thế giới. Tính bình quân 6 tháng đầu của năm, CPI tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,12%.

Số liệu của Cục Thống kê cho thấy, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tác động lớn nhất đến CPI bình quân 6 tháng do chi phí đầu vào gia tăng cùng với sự phục hồi của nhu cầu tiêu dùng. Nhóm này tăng 6,72% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 1,53 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
Tuy nhiên theo bà Nguyễn Thu Oanh - Trưởng Ban Thống kê dịch vụ và giá (Cục Thống kê) dù chịu tác động của biến động địa chính trị nhưng với mặt hàng xăng dầu, việc điều hành chủ động, linh hoạt giá trong nước cũng như đảm bảo nguồn cung lương thực, thực phẩm đã góp phần hạn chế các cú sốc giá, giảm bớt áp lực tăng giá, giúp mặt bằng giá trong nước duy trì ổn định hơn so với áp lực từ bên ngoài.
Không chủ quan với áp lực cuối năm
Đánh giá mặt bằng giá 6 tháng đầu năm được kiểm soát tích cực, Cục Thống kê nhận định, điều hành lạm phát trong những tháng còn lại của năm sẽ đối mặt với nhiều khó khăn hơn.
Theo bà Nguyễn Thu Oanh, Cục Thống kê đã xây dựng các phương án kỹ thuật phục vụ công tác điều hành của Chính phủ trên cơ sở diễn biến lạm phát 6 tháng đầu năm, đồng thời đưa ra nhiều giả định khác nhau về biến động giá các nhóm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và triển vọng kinh tế thế giới. Theo đó, kịch bản lạm phát được xây dựng nằm trong khoảng 4,5 - 5%.
Nhận định về những áp lực tác động đến lạm phát, Trưởng Ban Thống kê dịch vụ và giá nhấn mạnh đến diễn biến của thị trường năng lượng thế giới khi tình hình địa chính trị vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Hiện xăng dầu chiếm khoảng 4,5% trong rổ hàng hóa tính CPI nhưng nhóm hàng này có tác động lan tỏa rất lớn đến chi phí vận tải, logistics, sản xuất, giá của nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ khác.

Bên cạnh đó, chi phí đầu vào của nền kinh tế vẫn ở mức cao và có nguy cơ tiếp tục tạo áp lực lên lạm phát tiêu dùng. Qua các chỉ số giá sản xuất trong 6 tháng đầu năm cho thấy chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,18% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,4%. Ngoài ra, giá sản xuất của ngành vận tải, kho bãi cũng ghi nhận mức tăng đáng kể...
Theo bà Nguyễn Thu Oanh, nếu các chi phí đầu vào tiếp tục duy trì ở mức cao trong thời gian dài, áp lực sẽ dần chuyển sang giá tiêu dùng. Điều này khiến công tác kiểm soát lạm phát trở nên khó khăn hơn.
Một yếu tố khác có tính đặc thù là nhu cầu tiêu dùng, đầu tư và du lịch thường tăng cao trong những tháng cuối năm, các dịp lễ, Tết. Đây vừa động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vừa tạo sức ép nhất định lên giá cả nếu nguồn cung không được chuẩn bị đầy đủ.
Chủ động bình ổn hàng thiết yếu
Trước tình hình đó, quan trọng nhất trong thời gian tới là việc theo dõi sát diễn biến giá cả thế giới để có các giải pháp ứng phó phù hợp, đồng thời chủ động nguồn cung trong nước, nhất là các mặt hàng thiết yếu.
Trưởng Ban Thống kê dịch vụ và giá cũng đề cập đến yêu cầu cần tính toán thận trọng lộ trình điều chỉnh giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý như giáo dục, y tế và một số dịch vụ công. Việc điều chỉnh cần bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu thực hiện cơ chế thị trường với mục tiêu kiểm soát lạm phát của năm, tránh tạo áp lực dồn vào một thời điểm.

Bên cạnh những áp lực đó, bà Nguyễn Thu Oanh chỉ ra một số yếu tố giúp kiểm soát lạm phát đạt mục tiêu Quốc hội đề ra. Đó là nguồn hàng dồi dào đáp ứng nhu cầu tiêu dùng người dân; sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, hệ thống phân phối ngày càng mở rộng, công tác điều hành giá của Chính phủ ngày càng linh hoạt và chủ động.
Trước đó, trao đổi về nội dung này, TS Nguyễn Tú Anh - Giám đốc nghiên cứu của VinUni nhận định: lạm phát tại Việt Nam hiện nay đến từ chi phí đẩy. Thời gian qua, do tác động của tình hình địa chính trị thế giới, một số mặt hàng nguyên liệu sản xuất tăng.
Tuy nhiên, đây không phải là yếu tố đáng quan ngại do tỷ giá ổn định, không tăng làm chi phí nhập khẩu. Trong khi đó, sản xuất trong nước duy trì đà tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa với mặt bằng giá neo ở mức giá vừa phải. Điều này không làm cho lạm phát của Việt Nam bị đẩy quá cao.
Trong thời gian tới, theo TS Nguyễn Tú Anh, việc điều chỉnh giá một số dịch vụ y tế, giáo dục theo thị trường có thể là yếu tố tiềm ẩn làm tăng lạm phát. Tuy nhiên, với dự báo lạm phát quanh 4,5% là mức có thể chấp nhận được.