Chính trị - Xã hội
Đề xuất áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội
Tiếp tục Chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, tại phiên họp sáng nay 06/8, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra Chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội.
Trình bày Tờ trình tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, mục tiêu đầu tư dự án nhằm hình thành tuyến đường bộ cao tốc kết nối Thủ đô Hà Nội với các địa phương trong Vùng nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải bền vững, tạo động lực lan tỏa, mở ra không gian phát triển kinh tế mới; tạo tiền đề phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giảm ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường; hoàn thiện, đồng bộ hệ thống đường vành đai Thủ đô Hà Nội và thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển theo các Nghị quyết của Đảng.

Dự án có chiều dài đầu tư khoảng 349km, đi qua địa bàn 07 địa phương. Tuyến chính cao tốc quy mô 6 làn xe, tốc độ thiết kế 100 - 120km/h; đường song hành quy mô tối thiểu 2 làn xe, tốc độ thiết kế 60 - 80km/h.
Về phương án thiết kế sơ bộ, theo Bộ trưởng, hướng tuyến được nghiên cứu, lựa chọn bảo đảm phù hợp với quy hoạch, chiều dài ngắn nhất có thể, hạn chế khối lượng GPMB. Phương án tuyển lựa chọn đã được 7/7 địa phương liên quan có ý kiến thống nhất bằng văn bản. Xây dựng các nút giao liên thông; một số đoạn cầu cạn qua địa bàn tỉnh Ninh Bình, Phú Thọ; hệ thống giao thông thông minh, trung tâm quản lý, điều hành giao thông; trạm dừng nghỉ được đầu tư bảo đảm đồng bộ, hiện đại…
Về sơ bộ tổng mức đầu tư, nguồn vốn, phân kỳ đầu tư, Bộ trưởng cho biết, sơ bộ tổng mức đầu tư dự án khoảng 288.268 tỷ đồng, bao gồm: phần tuyến chính cao tốc khoảng 215.192 tỷ đồng, thực hiện bằng ngân sách trung ương; phần đường song hành khoảng 73.076 tỷ đồng, thực hiện bằng vốn ngân sách địa phương.

Chính phủ dự kiến bố trí cho Dự án trong giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 59.700 tỷ đồng, với phương án: Chuẩn bị đầu tư toàn tuyến (349km) làm cơ sở huy động nguồn vốn đầu tư; đối với phần tuyến chính cao tốc, đầu tư khoảng 116km đoạn tuyến phía Đông (từ cầu Thái Hà đến cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn) có nhu cầu vận tải cao, có tiềm năng mở rộng không gian phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ, logistics, phù hợp khả năng cân đối vốn, quy mô 6 làn xe, đầu tư công; đối với đường song hành, phạm vi, quy mô, thời điểm đầu tư được xác định bảo đảm phù hợp với khả năng cân đối vốn ngân sách địa phương.
Dự kiến tiến độ thực hiện dự án, chuẩn bị đầu tư dự án từ năm 2026, thực hiện dự án năm 2027, cơ bản hoàn thành công trình năm 2030. Các đoạn còn lại trong giai đoạn 2026 - 2030 tiếp tục huy động các nguồn vốn để ưu tiên đầu tư sớm, phần đầu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035…
Bộ trưởng Bộ Xây dựng cũng cho biết, dự án đề xuất áp dụng 10 nhóm cơ chế, chính sách đặc biệt.
Cụ thể, 08 chính sách đã được Quốc hội cho phép áp dụng tại một số dự án liên quan: thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư; thẩm định khả năng cân đối vốn cho Dự án; công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; bãi đổ chất thải rắn xây dựng; chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác; chỉ định thầu; điều chỉnh các quy hoạch có liên quan; giá trị tăng thêm từ khu vực dọc tuyến đường Dự án;
Và 02 chính sách mới: công tác bồi thường, hỗ trợ đối với doanh nghiệp bị thu hồi đất sản xuất; thẩm quyền quyết định chuyển đổi hình thức đầu tư.
Báo cáo thẩm tra Chủ trương đầu tư Dự án, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết, Dự án đáp ứng tiêu chí dự án quan trọng quốc gia theo quy định tại Điều 8 Luật Đầu tư công. Hồ sơ Dự án cơ bản đáp ứng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị tiếp tục rà soát, thống nhất số liệu giữa các tài liệu; làm rõ phạm vi thu hồi đất, số hộ bị ảnh hưởng, tái định cư, đối tượng yếu thế để bảo đảm tính đầy đủ và chính xác của hồ sơ.
Bên canh đó, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng đề nghị tiếp tục cân nhắc và làm rõ một số nội dung liên quan về sự cần thiết đầu tư và sự phù hợp quy hoạch; phạm vi, quy mô, hình thức đầu tư và tổ chức thực hiện; tổng mức đầu tư, nguồn vốn và khả năng cân đối vốn; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nguồn vật liệu xây dựng; khai thác quỹ đất, hiệu quả đầu tư và cơ chế, chính sách đặc thù.