Tài chính doanh nghiệp
1,48 triệu tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp và xu hướng nửa cuối năm
Tại cuối tháng 6, tổng dư nợ trái phiếu doanh nghiệp lưu hành đạt khoảng 1.478 nghìn tỷ đồng, cho thấy vai trò của thị trường. Dù vậy, với quy mô còn khiêm tốn, doanh nghiệp vẫn chịu áp lực đáo hạn.
Phát hành trái phiếu riêng lẻ vẫn là chủ đạo
Theo dữ liệu của Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA) và tổng hợp dữ liệu tại CBond - HNX, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong 6 tháng đầu năm 2026, đạt khoảng 212.748 tỷ đồng. Trong đó, hình thức phát hành riêng lẻ đạt 187.915 tỷ đồng, chiếm 88,3% tổng giá trị phát hành và hình thức phát hành ra công chúng đạt 24.833 tỷ đồng, chiếm 11,7% tổng giá trị phát hành. Điều này cho thấy, phát hành trái phiếu riêng lẻ vì vậy vẫn là hình thức huy động vốn chủ đạo trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

Cơ cấu phát hành trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục tập trung cao vào hai nhóm ngành chính là ngân hàng và bất động sản. Trong đó, nhóm ngân hàng chiếm khoảng 50% và bất động sản chiếm khoảng 40% giá trị phát hành riêng lẻ. Sự tập trung này phản ánh nhu cầu bổ sung vốn cấp 2, kéo dài kỳ hạn nguồn vốn của các ngân hàng, cũng như nhu cầu tái cấp vốn và triển khai đầu tư phát triển các dự án của các doanh nghiệp bất động sản trong thời gian qua.
Theo Thông tin Báo cáo thị trường quý II/2026 của SaigonRatings, tổng dư nợ trái phiếu doanh nghiệp lưu hành đạt khoảng 1.478 nghìn tỷ đồng, tương đương với khoảng 10,9% giá trị GDP danh nghĩa quốc gia gần nhất. Quy mô này cho thấy thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống tài chính Việt Nam, nhưng vẫn còn nhỏ hơn nhiều so với dư nợ tín dụng ngân hàng.
Chi phí huy động vốn tiếp tục phân hóa theo chất lượng tín dụng. Trong quý II năm 2026, lãi suất coupon bình quân của trái phiếu ngân hàng ở mức khoảng 8,5%/năm, trong khi trái phiếu bất động sản ở mức khoảng 11,5%/năm. Mặt bằng lãi suất này phản ánh yêu cầu bù đắp rủi ro cao hơn của nhà đầu tư đối với các doanh nghiệp có dòng tiền yếu, đòn bẩy tài chính lớn hoặc phụ thuộc nhiều vào hoạt động tái cấp vốn.
Áp lực đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp
Áp lực đáo hạn tiếp tục là thách thức trọng yếu của thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Cũng theo dữ liệu thống kê của VBMA, tại thời điểm kết thúc tháng 6 năm 2026, có khoảng 116.329 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp dự kiến sẽ đáo hạn trong 6 tháng cuối năm 2026. Vì vậy, khả năng thực hiện các nghĩa vụ nợ đến hạn đầy đủ, đúng hạn của các tổ chức phát hành trên thị trường cần phải được phân tích, đánh giá dựa trên dòng tiền hoạt động kinh doanh, lượng tiền mặt, hạn mức tín dụng chưa sử dụng, tiến độ pháp lý dự án và khả năng phát hành mới, thay vì chỉ dựa vào giá trị tài sản bảo đảm.
Khung pháp lý của thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng được hoàn thiện với Nghị định số 200/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 5/6/2026. Chính sách mới nhấn mạnh quy định nguyên tắc doanh nghiệp tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm, sử dụng vốn đúng mục đích, theo dõi riêng nguồn vốn huy động và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của thông tin công bố trong suốt kỳ phát hành trái phiếu.
Tuy nhiên, trong phạm vi dữ liệu công khai được tổng hợp, hiện nay vẫn chưa có một tỷ lệ hợp nhất phản ánh đầy đủ số doanh nghiệp và số lô trái phiếu đã được xếp hạng tín nhiệm trên toàn thị trường. Đây là khoảng trống về thông tin dữ liệu của thị trường cần tiếp tục hoàn thiện. Trong bối cảnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp ngày càng được chú trọng tới hồ sơ chất lượng tín dụng của doanh nghiệp, vai trò xếp hạng tín nhiệm độc lập, kiểm soát dòng tiền và minh bạch tài sản bảo đảm. Những yếu tố này, có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo dựng, duy trì niềm tin thị trường và đảm bảo định hướng phát triển thị trường trái phiếu bền vững trong trung và dài hạn.

Đánh giá riêng về thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong nửa đầu năm 2026, chúng tôi cho rằng thị trường đang tiếp tục xu hướng phục hồi và từng bước phát triển ổn định theo hướng chọn lọc, với sự phân hóa ngày càng rõ theo chất lượng tín dụng của tổ chức phát hành.
Trong nửa cuối năm 2026, các yếu tố về năng lực tạo dòng tiền, khả năng trả nợ, mức độ minh bạch và chất lượng quản trị, sẽ là những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, đồng thời tạo nền tảng cho việc đánh giá triển vọng phát triển của thị trường tài chính Việt Nam nói chung.
Trong các tháng cuối năm, về thách thức, chúng tôi nhận định thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ tiếp tục đối mặt với ba thách thức chính gồm áp lực đáo hạn, chi phí tái cấp vốn và mức độ tập trung cao. Trong đó, chi tiết thêm về áp lực đáo hạn trái phiếu, dữ liệu cập nhật thị trường của chúng tôi ghi nhận tại thời điểm 1/8/2026, lượng giá trị trái phiếu đáo hạn trong các tháng cuối năm 2026 và 6 tháng đầu năm 2027 ước tính là khoảng 242 nghìn tỷ đồng.
Chi phí huy động còn phân hóa
Từ cấu trúc phát hành mới tại tháng 7 với giá trị phát hành mới đạt khoảng 26 nghìn tỷ đồng, giảm 80% so với tháng trước; trong đó ngân hàng chiếm 79% và bất động sản chiếm 11% tổng giá trị phát hành, chúng tôi dự báo, khả năng tiếp cận thị trường vẫn tập trung chủ yếu ở nhóm ngân hàng và một số doanh nghiệp bất động sản có quy mô hoạt động kinh doanh lớn, hồ sơ tài chính tốt, có nguồn lực quỹ đất và uy tín thương hiệu trên thị trường cao.
Đồng thời, chi phí huy động vốn trên thị trường trái phiếu trong thời gian tới tiếp tục phân hóa theo chất lượng tín dụng. Coupon bình quân của trái phiếu ngân hàng trong tháng 7 ở mức khoảng 8,7%/năm, trong khi trái phiếu bất động sản ở mức khoảng 12,5%/năm. Doanh nghiệp có dòng tiền yếu, đòn bẩy cao hoặc phụ thuộc nhiều vào hoạt động phát hành mới sẽ phải trả mức bù rủi ro lớn hơn.
Theo ghi nhận của chúng tôi, tỷ lệ chậm trả trái phiếu hằng năm ở mức khoảng 0,29%. Tuy nhiên, đây là chỉ tiêu được tính theo phương pháp riêng của Saigon Ratings và không đồng nghĩa rủi ro tái cấp vốn đã được loại bỏ. Áp lực thực tế còn phụ thuộc vào lịch trình đáo hạn nợ, lượng tiền mặt, dòng tiền hoạt động, khả năng bán tài sản và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tài trợ thay thế của từng doanh nghiệp trên thị trường
Triển vọng thị trường vẫn có cơ sở cải thiện nhờ nhu cầu vốn trung và dài hạn lớn, cùng với khung pháp lý ngày càng hoàn thiện và minh bạch hơn.
Trong những tháng cuối năm 2026, hoạt động phát hành trái phiếu trên thị trường được dự báo tiếp tục phục hồi theo hướng chọn lọc. Hệ thống ngân hàng có thể tiếp tục duy trì vai trò chủ đạo nhằm bổ sung vốn cấp 2 và kéo dài kỳ hạn nguồn vốn. Các doanh nghiệp bất động sản có pháp lý đầu tư dự án rõ ràng, dòng tiền bán hàng tốt và tài sản bảo đảm minh bạch vẫn có khả năng tiếp cận nhà đầu tư trái phiếu và khả năng đa dạng hóa huy động vốn trên thị trường.
Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao, dòng tiền yếu hoặc lịch sử chậm trả sẽ phải chịu chi phí huy động vốn cao hơn và điều kiện phát hành chặt chẽ hơn. Các trái chủ trên thị trường ngày càng chú trọng hơn về thông tin xếp hạng tín nhiệm tổ chức phát hành và trái phiếu, nguồn tiền trả nợ, tài sản bảo đảm, điều khoản bảo vệ trái chủ và cơ chế kiểm soát dòng tiền của các doanh nghiệp.