Tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp

Doanh nghiệp xây dựng có năng lực hấp thụ chi phí và nợ vay ra sao?

Lê Mỹ 17/09/2026 04:01

Giải ngân đầu tư công mạnh mẽ và bất động sản tích cực hơn giúp các doanh nghiệp xây dựng, nhà thầu đón nhu cầu phục hồi mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự phân hóa về năng lực hấp thụ chi phí và nợ vay khá rõ giữa các nhóm trong ngành.

Ngành xây dựng Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ về nhu cầu. Những áp lực lớn từ chi phí đầu vào và lãi vay đang tạo ra sự phân hóa ngày càng sâu sắc về mức độ tín nhiệm giữa các nhóm doanh nghiệp.

Một số doanh nghiệp ngành xây dựng hạ tầng được dự báo còn dư địa tăng trưởng. Nguồn ảnh minh họa: CTD
Ngành xây dựng Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh về nhu cầu, nhờ giải ngân đầu tư công tăng tốc, hoạt động xây dựng bất động sản nhà ở hồi phục, và môi trường pháp lý thuận lợi hơn đối với ngành. (Ảnh minh họa: CTD)

3 động lực phục hồi của doanh nghiệp xây dựng

Hoạt động xây dựng đã ghi nhận sự tăng tốc rõ rệt khi tăng trưởng GDP thực của ngành tăng từ mức 8,5% trong quý 1/2026 lên 10,2% trong quý 2/2026, phản ánh tiến độ triển khai các dự án đang được đẩy nhanh. Sự phục hồi này diễn ra trên diện rộng nhờ những động lực chính, cập nhật ngành xây dựng của VIS Rating phân tích.

Thứ nhất, giải ngân đầu tư công mạnh mẽ: Trong 6 tháng đầu năm 2026, nguồn vốn đầu tư công giải ngân đạt 357 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 35,5% kế hoạch và tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.

Thứ hai, Bất động sản nhà ở ấm lên: Nguồn cung căn hộ đủ điều kiện mở bán tại hai thị trường trọng điểm là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh ghi nhận mức tăng vọt, lần lượt đạt 55% và 78% so với cùng kỳ,

Thứ ba, hành lang pháp lý thuận lợi: Luật Xây dựng năm 2025, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, được đánh giá mang lại tác động tích cực cho ngành. Các quy định như tinh gọn quy trình phê duyệt, miễn giấy phép xây dựng và áp dụng cơ chế đặc thù cho dự án đầu tư công được kỳ vọng sẽ làm giảm độ trễ về thủ tục hành chính, hỗ trợ tiến độ thi công. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng tiếp tục thúc đẩy các dự án giao thông trọng điểm, nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và quyết liệt tháo gỡ vướng mắc trong giải phóng mặt bằng.

Thách thức chi phí, dòng vốn, nợ vay

Tuy nhiên, bên cạnh đó, bà Nguyễn Thị Kiều Hạnh - Trưởng nhóm phân tích VIS Rating cho rằng, vẫn còn những thách thức nhìn từ chi phí và dòng vốn với doanh nghiệp ngành.

xd.jpg

Bất chấp nhu cầu thị trường ở mức cao, khả năng cải thiện biên lợi nhuận của các doanh nghiệp đang bị kìm hãm bởi áp lực chi phí hiện hữu. Chi phí nhân công tăng, kèm theo giá vật liệu xây dựng cơ bản leo thang - điển hình như giá thép xây dựng tăng 8% -10% và giá xi măng tăng 3%-4% so với cùng kỳ - đang bào mòn lợi nhuận của các nhà thầu.

Trong khi đó, về mặt nguồn vốn, tín dụng vẫn sẵn sàng nhưng các ngân hàng đang thể hiện khẩu vị rủi ro chọn lọc hơn.

Tính đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng đối với ngành xây dựng tăng 6,36% so với thời điểm cuối năm 2025, thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng 8,37% của toàn hệ thống ngân hàng. Tín dụng cho ngành này chiếm khoảng 7,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, gần như không thay đổi so với cuối năm trước.

Ở kênh trái phiếu doanh nghiệp, hoạt động phát hành mới khá ảm đạm. Trong nửa đầu năm 2026, chỉ ghi nhận 1.525 tỷ đồng trái phiếu được phát hành từ các tổ chức quen thuộc như Coteccons (CTD) và Fecon (FCN), với mục đích chủ yếu là bổ sung vốn lưu động và tái cơ cấu nợ thay vì đầu tư mở rộng.

Bức tranh tài chính của ngành cho thấy một sự phân hóa rõ nét, trong đó lợi thế nghiêng hẳn về các nhà thầu quy mô lớn. Dù doanh thu toàn ngành duy trì đà tăng trưởng tích cực ở mức 12,3% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2026, nhưng mức tăng này phần lớn thuộc về các nhà thầu lớn và vừa. Ngược lại, nhiều nhà thầu nhỏ lại đối mặt với tình trạng suy giảm doanh thu, theo bà Kiều Hạnh.

Theo đó, chuyên gia VIS Rating cũng chỉ ra 3 thách thức với các doanh nghiệp ngành xây dựng.

Một là sức chống chịu trước biên lợi nhuận thu hẹp. Theo dữ liệu, chuyên gia cho biết chi phí đầu vào tăng cao đã dần phản ánh vào quá trình triển khai dự án, khiến 16 trên 30 công ty xây dựng niêm yết bị sụt giảm biên lợi nhuận gộp trong quý 2/2026. Tuy vậy, các nhà thầu lớn có khả năng chống chịu tốt hơn nhờ dư địa hấp thụ áp lực chi phí, khả năng lựa chọn dự án, năng lực triển khai, vị thế đàm phán vững chắc và lợi thế mua nguyên vật liệu với khối lượng lớn.

Hai là áp lực nợ vay gia tăng. Những nhà thầu quy mô vừa đến lớn có khối lượng công việc chưa thực hiện (backlog) cao đang phải chịu áp lực nợ lớn. Dù dư nợ vay toàn ngành chỉ tăng 5% so với cùng kỳ, nhưng môi trường chi phí vốn cao đã khiến chi phí lãi vay tăng mạnh tới 25%. Hậu quả là hệ số bao phủ lãi vay (EBIT/Lãi vay) của toàn ngành suy giảm từ mức 2,7 lần vào cuối năm 2025 xuống chỉ còn gần 1,9 lần vào cuối quý 2/2026.

Ba là khả năng thanh khoản và trả nợ. Các chuyên gia VIS Rating nhấn mạnh, khả năng chuyển hóa giá trị hợp đồng thành dòng tiền cho thấy sự khác biệt lớn. Dòng tiền hoạt động (CFO) 12 tháng gần nhất tính đến cuối quý 2/2026 của nhóm nhà thầu lớn đã phục hồi tích cực, tăng khoảng 50% so với quý 1. Trong khi đó, dòng tiền hoạt động tại nhiều nhà thầu nhỏ và vừa vẫn duy trì ở mức âm, kéo theo sự suy giảm về tính linh hoạt tài chính, gia tăng áp lực trả nợ và đẩy mức độ rủi ro tín nhiệm ngày càng cách biệt.

Nhìn chung, mặc dù hoạt động của doanh nghiệp ngành xây dựng có sự phục hồi do nhu cầu tăng, theo cập nhật của các chuyên gia, chi phí nhân công, vật liệu và chi phí vốn tăng sẽ hạn chế khả năng cải thiện biên lợi nhuận và làm gia tăng mức độ phân hóa tín nhiệm giữa các doanh nghiệp xây dựng. Các nhà thầu lớn có dư địa hấp thụ áp lực chi phí lớn hơn và khả năng chuyển hóa giá trị hợp đồng chưa thực hiện (backlog) thành doanh thu và dòng tiền cao hơn, nhờ năng lực triển khai, khả năng lựa chọn dự án và vị thế đàm phán tốt hơn. Ngược lại, các nhà thầu nhỏ hơn và sử dụng nhiều nợ vay đối mặt với biên lợi nhuận thu hẹp, mức độ linh hoạt tài chính hạn chế và áp lực thanh toán nợ gia tăng

Lê Mỹ