Kinh tế
Hạ tầng năng lượng cho làn sóng FDI công nghệ cao
Sự xuất hiện của các dự án trung tâm dữ liệu và sản xuất vi mạch đặt ra yêu cầu vô cùng cao về độ tin cậy nguồn điện, khi chỉ số mất điện bình quân vài phút mỗi năm không còn đủ đáp ứng cho các dây chuyền công nghệ cao.
Tiêu chí thay đổi
Trong tọa đàm “Đón làn sóng FDI công nghệ cao - Kiến tạo hệ sinh thái sản xuất mới”, ông Lê Văn Thinh, Phó Trưởng ban Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp TP HCM cho biết, trong 9 tháng đầu năm 2026, cơ quan này đã hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp thu hút 5,57 tỷ USD vốn đầu tư. Trong đó, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt khoảng 4,2 tỷ USD và vốn đầu tư trong nước đạt 1,33 tỷ USD. Điểm nổi bật trong dòng vốn mới là dự án trung tâm dữ liệu tại Khu công nghiệp Tân Phú Trung với quy mô vốn đăng ký lên tới 2,1 tỷ USD. Đây là một trong những dự án có quy mô vốn lớn nhất được ghi nhận tại thành phố trong nhiều năm qua.

Sự chuyển dịch của dòng vốn FDI sang các lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu đang làm thay đổi bộ tiêu chuẩn đánh giá hạ tầng kỹ thuật. Làn sóng đầu tư thế hệ mới không đặt nặng chi phí thuê đất hay giá nhân công rẻ. Các tập đoàn đa quốc gia tập trung khảo sát khả năng cấp điện liên tục, độ ổn định dòng điện và tỷ lệ cung ứng năng lượng xanh trước khi đưa ra quyết định đặt nhà máy.
Báo cáo về chỉ số B-READY (chỉ số sẵn sàng kinh doanh) năm 2025 của Ngân hàng Thế giới đánh giá yếu tố kết nối điện của Việt Nam đứng thứ 2 tại khu vực Đông Nam Á, chỉ xếp sau Singapore. Đây là bước tiến lớn so với vị trí thứ 156 trên 189 quốc gia và nền kinh tế vào năm 2013 khi Việt Nam bắt đầu đo lường. Điều này thể hiện sự cải thiện rõ rệt về thủ tục hành chính và khả năng tiếp cận điện năng. Tuy nhiên, đối với các ngành công nghiệp tiên phong, thước đo này đang đòi hỏi những tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe hơn.
TS Nguyễn Trung Nhân, Trưởng phòng đào tạo Trường Đại học Công nghiệp TP HCM cho biết, với chỉ số thời gian mất điện bình quân của một khách hàng (SAIDI) tại khu vực TP HCM cũ hiện đạt khoảng 2,7 phút/năm thì mức độ tin cậy này đã nằm trong top 5 thế giới và tương đương với thành phố New York của Mỹ. Tuy vậy, thông số này vẫn chưa đáp ứng được chuẩn vận hành tuyệt đối của các trung tâm dữ liệu hay nhà máy sản xuất vi mạch bán dẫn. Các dây chuyền công nghệ cao đòi hỏi nguồn điện liên tục 100%, hoàn toàn không cho phép xuất hiện thời gian gián đoạn.
Nhảy điện nhỏ, thiệt hại lớn
Sự khác biệt giữa sản xuất công nghiệp truyền thống và sản xuất công nghệ cao nằm ở độ nhạy cảm của máy móc đối với chất lượng điện năng. Trong ngành chế tạo cơ khí hay dệt may, việc sụt áp hoặc mất điện ngắn hạn chỉ gây gián đoạn chốc lát. Đối với ngành công nghiệp bán dẫn, sản xuất bo mạch in và trung tâm dữ liệu, một biến động điện áp cực nhỏ kéo dài vài mili giây cũng dẫn tới thiệt hại kinh tế nghiêm trọng.
Một trường hợp minh chứng là dự án của Công ty TNHH Electronic Tripod Việt Nam ở Khu công nghiệp Châu Đức. Doanh nghiệp này đầu tư nhà máy sản xuất bo mạch in (PCB) với tổng vốn 450 triệu USD, dự kiến sử dụng 3.600 lao động. Nhận thức rõ tầm quan trọng của nguồn điện, doanh nghiệp đã chủ động bỏ vốn tự đầu tư tuyến cáp điện ngầm nhằm giảm thiểu rủi ro sự cố từ đường dây cáp nổi.
Mặc dù đã chủ động trang bị hệ thống cáp ngầm riêng, nhà máy vẫn gặp sự cố khi trạm biến áp nguồn phía trên bị ảnh hưởng bởi thời tiết. Ông Lữ Chính Minh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Electronic Tripod Việt Nam cho biết, các đợt mưa giông làm rơ-le bảo vệ trạm nguồn kích hoạt, gây ra hiện tượng mất điện chớp tắt trong khoảng thời gian cực ngắn. Gián đoạn dòng điện tức thời này ngay lập tức làm toàn bộ máy móc công nghệ cao dừng hoạt động, hư hỏng các lô sản phẩm đang nằm trên dây chuyền và tiêu tốn nhiều thời gian để khôi phục vận hành. Thực tế này phản ánh sự chênh lệch giữa tốc độ mở rộng của nhà đầu tư và năng lực cung ứng hạ tầng chung.
Nâng cao độ tin cậy
Ông Bùi Quốc Hoan, Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) cho biết, về quy mô cung ứng, tổng công suất nguồn điện tại miền Nam đạt khoảng 37.000 MW, trong khi công suất tiêu thụ cực đại năm 2026 khoảng 22.000 MW. Như vậy đảm bảo dư địa nguồn điện sẵn sàng phục vụ các khu công nghiệp mới. Bên cạnh đó, ngành điện áp dụng tiêu chuẩn vận hành dự phòng N-1 (tức nếu 1 cấu phần bị hỏng thì hệ thống vẫn hoạt động bình thường) cho hệ thống cấp điện khu công nghiệp và đặt lộ trình đến năm 2028 sẽ đảm bảo 100% tiêu chuẩn N-1 cho cả sinh hoạt lẫn sản xuất. Tỷ trọng điện phục vụ sản xuất công nghiệp tại miền Nam duy trì ở mức 60% đến 65% tổng sản lượng tiêu thụ.
Ngành điện miền Nam chủ động phối hợp với địa phương điều chỉnh quy hoạch, triển khai các công trình lưới điện mới phục vụ khu công nghiệp tại Đồng Nai và Tây Ninh trong năm 2027 nhằm đón đầu Sân bay Long Thành. Ngành điện cũng hoàn thành đưa vào vận hành trạm biến áp 110 kV cấp riêng cho Sân bay Long Thành từ cuối năm 2025. Về thủ tục, ngành điện ưu tiên đầu tư trực tiếp cấp điện đến chân công trình trong khu công nghiệp, rút ngắn thời gian thỏa thuận đấu nối hồ sơ chuẩn xuống chỉ còn vài ngày.
Song song với việc nâng cao độ ổn định dòng điện, bài toán xanh hóa nguồn năng lượng được giải quyết thông qua các cơ chế pháp lý mới. Ông Bùi Quốc Hoan thông tin, đã có 8 doanh nghiệp sản xuất trong khu công nghiệp tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) với tổng công suất khoảng 23 MW. Tại các khu công nghiệp do EVNSPC quản lý, có 933 đơn vị lắp đặt điện mặt trời mái nhà với tổng công suất 845 MW, trong đó 144 đơn vị lắp theo cơ chế tự sản tự tiêu đạt công suất 264 MW, chiếm hơn một nửa công suất tự sản tự tiêu toàn khu vực.
Ông Lê Văn Thinh cho biết, Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp TP HCM trình Hội đồng nhân dân TP HCM các đề xuất ban hành tiêu chí, lộ trình chuyển đổi khu công nghiệp hiện hữu sang khu công nghiệp sinh thái và thế hệ mới, chuẩn bị khoảng 10.000 ha đất sẵn sàng đón làn sóng FDI công nghệ cao.