Doanh nghiệp

Tái định vị khu công nghiệp trong kỷ nguyên công nghệ

TS Lê Thị Khánh Ly - Trường Đại học kinh tế (ĐHQGHN) 08/09/2026 05:19

Khi AI, bán dẫn và chuyển đổi xanh làm thay đổi dòng vốn đầu tư toàn cầu, vấn đề không còn là có thêm bao nhiêu khu công nghiệp, mà là các khu công nghiệp tạo ra bao nhiêu giá trị công nghệ, năng suất và năng lực cho doanh nghiệp Việt.

Sau gần bốn thập kỷ đổi mới, khu công nghiệp (KCN) đã trở thành một cấu phần quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và phát triển xuất khẩu của Việt Nam. Sự hình thành của các trung tâm sản xuất điện tử, cơ khí, dệt may, da giày và nhiều ngành công nghiệp khác tại Bắc Ninh, Hải Phòng, TP HCM... cho thấy vai trò của KCN trong việc đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất khu vực và toàn cầu.

anh1-kcn-hp.jpg
KCN đã trở thành một cấu phần quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và phát triển xuất khẩu của Việt Nam.

Ap lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Các số liệu của Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OEEC) cho thấy quy mô hội nhập của Việt Nam đã tăng rất nhanh. Năm 2025, dòng vốn FDI thực hiện tại Việt Nam tương đương khoảng 5,3% GDP, cao hơn nhiều nền kinh tế ASEAN cũng như Trung Quốc và Ấn Độ... Đây là kết quả đáng ghi nhận của mô hình tăng trưởng dựa trên mở cửa, FDI và sản xuất hướng xuất khẩu. Nhưng chính thành công này cũng đặt ra một câu hỏi mới: Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng bằng cách nào khi lợi thế lao động giá thấp, đất đai và ưu đãi đầu tư không còn đủ sức tạo khác biệt?

Dòng vốn đầu tư toàn cầu đang thay đổi. Với những ngành như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện tử thế hệ mới, công nghệ xanh và sản xuất thông minh, quyết định đầu tư không chỉ phụ thuộc vào giá thuê đất hay chi phí lao động. Nhà đầu tư cần hạ tầng số, kỹ sư, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), hệ thống nhà cung cấp có trình độ công nghệ và môi trường có khả năng hỗ trợ đổi mới. Điều này làm thay đổi cách nhìn về năng lực cạnh tranh của KCN. Một KCN có tỷ lệ lấp đầy cao có thể thành công về thu hút đầu tư, nhưng chưa chắc tạo ra giá trị lớn cho nền kinh tế nếu doanh nghiệp chủ yếu gia công, nhập phần lớn công nghệ và nguyên liệu, liên kết với doanh nghiệp trong nước ở mức thấp.

Khoảng cách giữa năng lực xuất khẩu và mức độ tham gia của doanh nghiệp nội địa cho thấy thách thức của Việt Nam hiện nay không còn nằm chủ yếu ở mở rộng quy mô thương mại, mà ở khả năng nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước và tạo hiệu ứng lan tỏa từ khu vực FDI.

Thực tế cho thấy quá trình chuyển đổi tại Việt Nam đã bắt đầu, dù chưa đồng đều. Một số KCN do VSIP và Amata phát triển đang chuyển theo hướng tích hợp công nghiệp - đô thị - dịch vụ, chú trọng hơn tới hạ tầng hiện đại, năng lượng và các yêu cầu phát triển bền vững. Ở hướng KCN sinh thái, DEEP C, Amata và Hiệp Phước đã tham gia chương trình KCN sinh thái của UNIDO. Ở cấp độ hệ sinh thái quốc gia, sự phát triển của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC), các trung tâm R&D của Samsung và một số tập đoàn công nghệ cho thấy Việt Nam đã bắt đầu có những hạt nhân nghiên cứu và đào tạo công nghệ quy mô lớn.

Tuy nhiên, vẫn còn những điểm nghẽn. Điểm nghẽn đầu tiên là hạ tầng đổi mới sáng tạo trong KCN còn thiếu. Nhiều KCN có hạ tầng sản xuất tốt nhưng chưa có phòng thí nghiệm mở, trung tâm kiểm thử, trung tâm R&D dùng chung hay không gian hỗ trợ doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ. Doanh nghiệp nhỏ và vừa vì vậy khó tham gia các hoạt động nghiên cứu có chi phí cao.

Điểm nghẽn thứ hai là liên kết giữa doanh nghiệp và hệ thống nghiên cứu - đào tạo còn yếu. Quan hệ giữa KCN với trường đại học phần lớn vẫn tập trung vào tuyển dụng, thực tập và đào tạo ngắn hạn. Các dự án nghiên cứu chung, phòng thí nghiệm doanh nghiệp - đại học hay thương mại hóa sáng chế chưa trở thành hoạt động thường xuyên.

Điểm nghẽn thứ ba là lan tỏa công nghệ từ FDI chưa tương xứng với quy mô đầu tư. OECD đánh giá FDI đã mang lại vốn, công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường cho Việt Nam nhưng liên kết với nền kinh tế trong nước còn hạn chế. OECD khuyến nghị tăng chương trình phát triển nhà cung cấp, cải thiện trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp FDI và nâng chất lượng nguồn nhân lực.

Ba điểm nghẽn này có quan hệ với nhau: Không có hạ tầng R&D, doanh nghiệp trong nước khó nâng cấp công nghệ. Không có liên kết viện trường, doanh nghiệp thiếu nguồn tri thức và nhân lực. Không có cơ chế kết nối FDI, năng lực công nghệ của các tập đoàn quốc tế khó lan tỏa sang khu vực nội địa.

Kiến tạo hệ sinh thái

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu” và là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Định hướng này có ý nghĩa trực tiếp đối với KCN.

Nếu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng, KCN phải là một trong những không gian triển khai trực tiếp định hướng đó. Đây là nơi tập trung doanh nghiệp sản xuất, FDI, lao động kỹ thuật, hạ tầng và chuỗi cung ứng. Nếu những nguồn lực này được kết nối với trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm R&D và doanh nghiệp công nghệ, KCN có thể trở thành nơi đưa nghiên cứu vào sản xuất và đưa công nghệ ra thị trường. Vấn đề này càng đáng lưu ý khi Việt Nam muốn nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Như vậy, thực hiện Nghị quyết 57 trong lĩnh vực công nghiệp không thể chỉ dừng ở việc doanh nghiệp mua thêm máy móc, áp dụng AI hay số hóa quy trình quản lý. Yêu cầu lớn hơn là thay đổi cấu trúc của hệ sinh thái công nghiệp để doanh nghiệp có điều kiện nghiên cứu, thử nghiệm, tiếp nhận và thương mại hóa công nghệ.

Kinh nghiệm từ Jurong Innovation District của Singapore hay hệ sinh thái Brainport Eindhoven của Hà Lan cho thấy các trung tâm công nghiệp có sức cạnh tranh cao không phát triển tách rời hệ thống nghiên cứu và đào tạo. Doanh nghiệp, đại học, viện nghiên cứu, cơ quan quản lý và các tổ chức hỗ trợ cùng tham gia vào quá trình phát triển công nghệ và nhân lực. Với Việt Nam, một KCN theo hướng đổi mới sáng tạo trước hết cần có hạ tầng R&D và hạ tầng số. Phòng thí nghiệm dùng chung, trung tâm kiểm thử, nền tảng dữ liệu hay trung tâm hỗ trợ sản xuất thông minh giúp doanh nghiệp tiếp cận công nghệ mà không phải tự đầu tư toàn bộ từ đầu. Điều này đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cấu phần thứ hai là doanh nghiệp dẫn dắt công nghệ. Một tập đoàn lớn sẽ tạo giá trị cao hơn cho nền kinh tế nếu kéo được nhà cung ứng nội địa tham gia vào quá trình nâng cấp sản phẩm, quản trị chất lượng và công nghệ, thay vì chỉ sử dụng Việt Nam như địa điểm lắp ráp. Cấu phần thứ ba là liên kết giữa doanh nghiệp với trường đại học và viện nghiên cứu. Đây là mắt xích còn yếu ở nhiều KCN hiện nay. Trường đại học không nên chỉ cung cấp sinh viên thực tập và lao động; cần tham gia giải quyết các bài toán công nghệ cụ thể của doanh nghiệp.

Hệ sinh thái khởi nghiệp, nguồn vốn cho đổi mới và cơ chế thử nghiệm công nghệ cũng cần được đưa vào KCN. Startup công nghiệp thường cần nhà máy thử nghiệm, dữ liệu thực tế và khách hàng doanh nghiệp hơn là một văn phòng làm việc. KCN chính là môi trường có thể cung cấp những điều kiện đó. KCN đổi mới sáng tạo không thể tách khỏi kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả năng lượng, cộng sinh công nghiệp và giảm phát thải. Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh vì thế cần được triển khai đồng thời.

Từ đó, chính sách cần chuyển từ ưu đãi đầu tư sang kiến tạo hệ sinh thái. Trước hết, Việt Nam cần xây dựng bộ tiêu chí KCN đổi mới sáng tạo. Một KCN không nên được gắn nhãn “đổi mới sáng tạo” chỉ vì có nhà máy thông minh hoặc sử dụng năng lượng tái tạo. Bộ tiêu chí cần phản ánh đầu tư R&D, liên kết với trường đại học, tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ, hoạt động chuyển giao và thương mại hóa công nghệ, mức độ số hóa, tỷ lệ nội địa hóa và hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Thứ hai, cần phát triển hạ tầng R&D dùng chung. Không nhất thiết mỗi KCN đều phải xây dựng một trung tâm nghiên cứu quy mô lớn. Có thể hình thành các trung tâm R&D và kiểm thử theo cụm ngành, phục vụ nhiều KCN trong cùng vùng. Bắc Ninh có thể tập trung vào điện tử và bán dẫn; Hải Phòng - Quảng Ninh vào sản xuất thông minh, logistics và công nghiệp xanh; TP HCM vào công nghệ cao, tự động hóa và công nghiệp hỗ trợ.

Thứ ba, cần đưa đại học và viện nghiên cứu vào cấu trúc phát triển KCN. Khi quy hoạch KCN công nghệ cao hoặc KCN đổi mới sáng tạo quy mô lớn, cần có cơ chế hợp tác dài hạn với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo. Doanh nghiệp đặt bài toán, trường đại học cung cấp nghiên cứu và nhân lực, còn Nhà nước hỗ trợ hạ tầng và cơ chế tài chính.

Thứ tư, chính sách thu hút FDI cần coi mức độ lan tỏa công nghệ là một tiêu chí quan trọng. Các dự án có trung tâm R&D, chương trình phát triển nhà cung cấp Việt Nam, đào tạo kỹ sư hoặc hợp tác nghiên cứu với trường đại học trong nước cần được ưu tiên trong các cơ chế hỗ trợ phù hợp với cam kết quốc tế.

Thứ năm, có thể thí điểm sandbox công nghiệp tại một số KCN đủ điều kiện. Các lĩnh vực như AI trong vận hành nhà máy, chia sẻ dữ liệu công nghiệp, phương tiện tự hành nội khu, lưu trữ năng lượng, tái sử dụng phụ phẩm hay mô hình cộng sinh công nghiệp đều cần không gian thử nghiệm trước khi áp dụng rộng.

Cuối cùng, nguồn lực tài chính cho đổi mới sáng tạo cần đi sát hơn với doanh nghiệp sản xuất. Các quỹ hiện có có thể dành chương trình riêng cho dự án R&D hợp tác giữa doanh nghiệp - trường đại học - viện nghiên cứu và các dự án nâng cấp công nghệ của nhà cung cấp Việt Nam.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Tái định vị khu công nghiệp trong kỷ nguyên công nghệ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO