“Phù phép” kết quả quan trắc: Lỗ hổng ở đâu?
Việc phát hiện hành vi sửa số liệu quan trắc từ “không đạt” thành “đạt” đặt ra yêu cầu siết kiểm soát quy trình, dữ liệu và chất lượng dịch vụ quan trắc môi trường.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an vừa khởi tố 3 vụ án, 28 bị can tại 10 phòng thí nghiệm liên quan đến sai phạm trong hoạt động quan trắc môi trường.

Theo thông tin được công bố, kết quả điều tra ban đầu xác định có tình trạng sửa số liệu phân tích quan trắc từ “không đạt” thành “đạt”, lấy mẫu không đúng quy trình, cấp kết quả quan trắc không đúng thực tế để thu tiền trong thời gian dài. Các bị can bị khởi tố về tội “Giả mạo trong công tác”, quy định tại khoản 2 Điều 359 Bộ luật Hình sự.
Vụ án này không chỉ đặt ra trách nhiệm đối với những cá nhân liên quan mà còn đặt ra vấn đề về chất lượng và độ tin cậy của hoạt động quan trắc môi trường. Bởi, kết quả quan trắc là nguồn dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát việc thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Vì vậy, khi số liệu phân tích có thể bị sửa từ “không đạt” thành “đạt”, vấn đề không chỉ nằm ở một phiếu kết quả sai mà còn liên quan đến khả năng kiểm chứng dữ liệu trong toàn bộ quá trình quan trắc.
Một số ý kiến cho rằng, từ vụ việc này cần nhìn lại cơ chế kiểm soát hoạt động quan trắc, không chỉ ở điều kiện để một tổ chức được phép cung cấp dịch vụ mà trong cả quá trình lấy mẫu, bảo quản, phân tích, xử lý dữ liệu và trả kết quả.
Thực tế, pháp luật hiện hành đã quy định các yêu cầu đối với tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường về năng lực chuyên môn, nhân lực, trang thiết bị, phương pháp và hệ thống quản lý chất lượng. Tổ chức đáp ứng các điều kiện được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường theo phạm vi được chứng nhận.
Tuy nhiên, việc đáp ứng điều kiện để được cấp giấy chứng nhận mới là một phần của quá trình quản lý. Chất lượng của từng kết quả còn phụ thuộc vào việc các quy trình chuyên môn được thực hiện và kiểm soát ra sao trong thực tế.
Từ lấy mẫu tại hiện trường, bảo quản, vận chuyển đến phân tích, xử lý dữ liệu, phê duyệt và phát hành kết quả đều là những công đoạn có liên quan trực tiếp đến độ chính xác của số liệu. Do đó, bên cạnh quản lý điều kiện hoạt động, việc tăng khả năng kiểm tra, đối chứng và truy xuất dữ liệu cũng được xem là yêu cầu quan trọng để phát hiện những bất thường.
Từ vụ án này, các chuyên gia cũng lưu ý tính chính xác của kết quả quan trắc liên quan đến sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ môi trường.
Doanh nghiệp tuân thủ phải đầu tư hệ thống xử lý, công nghệ và bỏ chi phí để đáp ứng các yêu cầu theo quy định. Nếu kết quả quan trắc không phản ánh đúng thực tế, việc đánh giá mức độ tuân thủ giữa các doanh nghiệp cũng có nguy cơ bị sai lệch. Khi đó, những doanh nghiệp bỏ chi phí thực để đáp ứng yêu cầu về môi trường có thể chịu bất lợi so với những chủ thể không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nhưng vẫn có kết quả đạt yêu cầu trên giấy.

Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp xung quanh nội dung này, Luật sư Tạ Anh Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH Tạ Anh Tuấn cho rằng, vấn đề cần đặc biệt quan tâm là tính toàn vẹn của dữ liệu trong toàn bộ chuỗi quan trắc.
“Muốn kiểm chứng một kết quả quan trắc thì phải có khả năng truy ngược: mẫu được lấy ở đâu, thời điểm nào, ai thực hiện, được bảo quản và phân tích ra sao, dữ liệu ban đầu như thế nào. Khi từng công đoạn đều để lại dấu vết có thể kiểm tra, khả năng can thiệp vào kết quả cuối cùng sẽ bị thu hẹp”, Luật sư Tuấn phân tích.
Theo Luật sư Tạ Anh Tuấn, cùng với kiểm soát quy trình, công tác hậu kiểm đối với tổ chức cung cấp dịch vụ quan trắc cần được thực hiện thực chất. Cơ quan quản lý cần tăng cường kiểm tra, đối chứng kết quả và đánh giá việc duy trì các điều kiện về nhân lực, thiết bị, quy trình kiểm soát chất lượng trong suốt quá trình hoạt động, thay vì chỉ chú trọng thời điểm cấp giấy chứng nhận.
Một vấn đề khác cần phân định rõ là trách nhiệm giữa tổ chức cung cấp dịch vụ quan trắc và doanh nghiệp thuê dịch vụ.
Luật sư Tuấn lưu ý, việc một kết quả quan trắc bị làm sai lệch không đồng nghĩa doanh nghiệp thuê dịch vụ đương nhiên có liên quan đến hành vi vi phạm. Trách nhiệm của từng chủ thể phải được xác định trên cơ sở hành vi, nhận thức, sự thỏa thuận và chứng cứ cụ thể.
“Nếu doanh nghiệp lựa chọn một tổ chức đủ điều kiện để thực hiện quan trắc, cung cấp thông tin trung thực và không biết kết quả bị làm sai lệch thì phải được xem xét khác với trường hợp có sự thỏa thuận, tác động hoặc biết rõ kết quả không đúng thực tế nhưng vẫn sử dụng. Phân định rõ trách nhiệm cũng chính là cách bảo vệ những doanh nghiệp tuân thủ đúng pháp luật”, Luật sư Tạ Anh Tuấn nhận định.
Theo Luật sư Tuấn, về lâu dài cần tăng khả năng số hóa, lưu trữ và truy xuất dữ liệu ở từng công đoạn. Dữ liệu gốc phải có khả năng đối chiếu khi hậu kiểm; những thay đổi đối với dữ liệu cần được lưu vết để xác định thời điểm và người thực hiện.
“Không thể chỉ siết ở tờ kết quả cuối cùng. Khi dữ liệu từ lúc lấy mẫu đến khi trả kết quả có thể truy xuất và đối chứng, khoảng trống để “phù phép” số liệu sẽ được thu hẹp. Đây không chỉ là yêu cầu bảo vệ môi trường mà còn là bảo vệ những doanh nghiệp đang bỏ chi phí thật để tuân thủ pháp luật”, Luật sư Tạ Anh Tuấn nhấn mạnh.
Nguyễn Giang