Gỡ điểm nghẽn để nâng tầm nông sản Việt
Cốt lõi lớn nhất khi triển khai nông nghiệp hữu cơ không nằm ở kỹ thuật đơn thuần, mà là bài toán thay đổi tư duy, cách nghĩ đã bám rễ sâu bền qua nhiều thế hệ canh tác của bà con nông dân cũng như doanh nghiệp.
Đó là chia sẻ của Tiến sĩ khoa học (TSKH) Hà Phúc Mịch - Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA), với Diễn đàn Doanh nghiệp xoay quanh chủ đề “Đổi mới tư duy, gỡ điểm nghẽn chính sách để nâng tầm nông sản Việt”.

- Thưa ông, thời gian qua nhiều mô hình canh tác hữu cơ đã được thí điểm tại các địa phương. Từ thực tế theo dõi và chuyển giao kỹ thuật, ông đánh giá thế nào về khả năng thay đổi thói quen sử dụng phân bón của người dân, doanh nghiệp? Tính khả thi trong việc nhân rộng các mô hình này trên diện rộng đòi hỏi những điều kiện gì?
Cốt lõi lớn nhất khi triển khai nông nghiệp hữu cơ không nằm ở kỹ thuật đơn thuần, mà là bài toán thay đổi tư duy, cách nghĩ đã bám rễ sâu bền qua nhiều thế hệ canh tác của bà con nông dân cũng như doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông sản.
Lâu nay, người trồng trọt đã quá quen với việc lạm dụng phân bón vô cơ vì tính tiện dụng, nhẹ nhàng trước mắt: chỉ cần một vài cân phân hóa học rải xuống đồng ruộng là chỉ vài ngày sau cây cối đã xanh tốt rõ rệt. Ngược lại, nếu chuyển sang sử dụng phân bón hữu cơ, một sào ruộng có thể đòi hỏi người nông dân phải chuyên chở, gánh vác hàng tạ phân ủ. Nhìn thấy khối lượng cồng kềnh, công sức bỏ ra nặng nhọc và vất vả hơn, tâm lý e ngại ban đầu xuất hiện là điều khó tránh khỏi.
Do đó, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của đội ngũ cán bộ khuyến nông, cán bộ kỹ thuật, các cơ quan quản lý Nhà nước khi đi cơ sở không chỉ là hướng dẫn công thức, mà tiên quyết phải kiên trì tuyên truyền, phân tích cặn kẽ để người làm nông nghiệp hiểu vì sao việc chuyển đổi sang phân bón hữu cơ là con đường sống còn của nền nông nghiệp sạch. Thay đổi tập quán sản xuất bắt buộc phải khởi nguồn từ sự chuyển biến căn bản trong nhận thức.
- Có ý kiến cho rằng, tâm lý sốt ruột trước năng suất và mẫu mã ban đầu của nông sản chính là rào cản lớn nhất khiến người dân và doanh nghiệp dễ nản lòng, thậm chí bỏ cuộc khi chuyển đổi sang quy trình hữu cơ. Ông đánh giá gì về ý kiến này?
Thực tế ghi nhận không ít câu chuyện dở khóc dở cười nhưng rất đáng suy ngẫm. Khi mới bắt tay vào trồng rau hữu cơ, trong 1 đến 2 tháng đầu tiên, do đất chưa kịp phục hồi và chưa quen với dinh dưỡng hữu cơ, cây trồng thường phát triển chậm, thân lá cằn cỗi, thậm chí bị sâu bệnh ghé thăm khiến hình thức trông rất xấu xí. Nhìn vườn rau như vậy, bà con xót xa vì sợ mất trắng vụ mùa.
Hệ quả là có những hộ nông dân đêm hôm tranh thủ mang một nắm phân đạm hóa học lén rải trộm xuống ruộng để kích cho rau nhanh xanh mướt trở lại. Hành vi bón lén trong đêm thì bằng mắt thường lúc bấy giờ cán bộ giám sát rất khó phát hiện. Tuy nhiên, trong chuỗi kiểm soát nghiêm ngặt của nông nghiệp hữu cơ chuẩn mực, khi nông sản thu hoạch được đưa vào phòng thí nghiệm kiểm tra dư lượng hóa chất thì các chỉ số nitrat, hóa chất cấm lập tức phát lộ. Đến khi bị đình chỉ bao tiêu và truy xuất ngược nguồn gốc, bà con mới ngậm ngùi thừa nhận vi phạm chỉ vì quá sốt ruột và tiếc công sức chăm sóc.
Điều đó cho thấy quán tính chạy theo số lượng và vẻ ngoài bóng bẩy vẫn còn rất nặng nề. Đây thực sự là một cuộc cách mạng bền bỉ. Cán bộ kỹ thuật phải giải thích cho người sản xuất thấu hiểu rằng canh tác hữu cơ không chỉ loại bỏ độc tố gây hại cho sức khỏe gia đình họ, bảo vệ nguồn nước và nuôi dưỡng đất đai, mà còn là chìa khóa duy nhất tạo ra nông sản đặc sản có giá trị thương phẩm vượt trội, đem lại lợi ích kinh tế bền vững.

- Bên cạnh sản phẩm hữu cơ, kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp đang được nhắc đến như giải pháp chiến lược để giảm áp lực phát thải và hạ giá thành vật tư. Bản chất của mô hình này nên được hiểu và vận dụng như thế nào trong điều kiện thực tiễn nước ta, thưa ông?
Bản chất của kinh tế nông nghiệp tuần hoàn không phải là điều gì xa vời, mà thực chất đã được ông cha ta đúc kết và thực hành hiệu quả từ rất lâu đời thông qua mô hình truyền thống Vườn – Ao – Chuồng (VAC).
Quy luật tuần hoàn khép kín ấy ngày nay được nâng cấp bằng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nguyên lý cơ bản là biến toàn bộ nguồn phát thải của chu trình này trở thành nguồn dinh dưỡng đầu vào cho chu trình kế tiếp, tạo nên một chuỗi sinh thái không có rác thải. Phụ phẩm trồng trọt sau thu hoạch như rơm rạ, thân cây ngô, bã sắn, vỏ đậu tương nếu đốt bỏ sẽ gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng, nhưng khi thu gom và xử lý đúng cách bằng chế phẩm sinh học lại trở thành nguồn phân bón hữu cơ tuyệt hảo cung cấp lại cho đồng đất.
Tương tự, lượng phân chuồng thải ra từ đàn trâu, bò, gia súc, gia cầm sau quá trình ủ vi sinh sẽ biến thành nguồn dinh dưỡng sạch nuôi cây trồng, chất mùn bón cho ao đầm nuôi thủy sản. Vòng tuần hoàn liên hoàn khép kín này giúp triệt tiêu hoàn toàn nguồn phát thải ô nhiễm ra môi trường nông thôn, đồng thời giúp hộ nông dân cắt giảm từ 40% đến 60% chi phí mua phân bón thương mại trên thị trường.
- Nhu cầu tái chế phụ phẩm và phát triển phân bón hữu cơ công nghiệp hiện nay là rất lớn, song nhiều hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ và vừa phản ánh và gặp muôn vàn khó khăn về vốn và thủ tục. Ông có đề xuất kiến nghị chính sách đột phá nào để tháo gỡ điểm nghẽn này?
Muốn đưa phân bón hữu cơ trở thành ngành công nghiệp phụ trợ chủ lực, Nhà nước cần nhanh chóng ban hành và thực thi đồng bộ 3 nhóm chính sách mang tính đòn bẩy:
Thứ nhất, chính sách tín dụng ưu đãi trung và dài hạn. Đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, hệ thống sân phơi ủ đạt chuẩn đòi hỏi nguồn vốn ban đầu tương đối lớn nhưng thời gian thu hồi vốn lại chậm. Cần có gói tín dụng xanh từ các ngân hàng thương mại nhà nước với lãi suất hỗ trợ đặc biệt, ân hạn nợ hợp lý để khuyến khích doanh nghiệp và hợp tác xã tự tin đầu tư công nghệ hiện đại.
Thứ hai, chuẩn hóa, minh bạch và tinh gọn hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật. Cần rà soát và ban hành hệ thống quy chuẩn quốc gia về phân bón hữu cơ rõ ràng, nhất quán và thực chất. Cắt giảm triệt để các thủ tục kiểm nghiệm, khảo nghiệm rườm rà, kéo dài từng làm nản lòng doanh nghiệp trước đây; thay vào đó là cơ chế hậu kiểm nghiêm ngặt gắn liền với chuyển đổi số.
Thứ ba, thiết lập cơ chế chính sách kép đối với các cơ sở xử lý môi trường. Những dự án sản xuất phân bón hữu cơ trực tiếp giải quyết vấn đề chất thải chăn nuôi quy mô lớn cho các trang trại địa phương cần được xem là công trình bảo vệ môi trường công ích. Nhà nước cần áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn giảm tiền thuê đất và hỗ trợ hạ tầng đấu nối. Khi doanh nghiệp vừa sản xuất ra phân bón vừa dọn sạch ô nhiễm môi trường nông thôn, đây là lợi ích kép cho toàn xã hội, góp phần đổi mới tư duy, gỡ điểm nghẽn chính sách để nâng tầm nông sản Việt.
- Trân trọng cảm ơn ông!
Bài và Ảnh: Hương Giang