Từ các mô hình liên kết sản xuất tại Quảng Trị, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân đang từng bước kết nối vùng nguyên liệu, quy trình, tiêu chuẩn và thị trường, tạo nền tảng hình thành chuỗi giá trị nông nghiệp xanh.

Tư duy sản xuất mới
Từ câu chuyện tại nhiều địa phương, bài toán nông nghiệp xanh cho thấy một thực tế rộng hơn: muốn chuyển từ sản xuất xanh sang kinh tế xanh, cần những doanh nghiệp đủ năng lực dẫn dắt chuỗi, kết nối vùng nguyên liệu, công nghệ, tiêu chuẩn và thị trường.
Quảng Trị đang đứng trước cơ hội tổ chức lại sản xuất theo hướng xanh, với lợi thế về đất đai, nông - lâm nghiệp và các vùng nguyên liệu. Nhưng vấn đề không chỉ là sản xuất thêm những sản phẩm được gọi là “xanh”. Điểm quan trọng hơn là ai đứng ra tổ chức chuỗi từ đầu vào đến đầu ra thị trường.
Đây cũng là vấn đề được TS. Trần Tự Lực, Phó Giám đốc Phân hiệu Trường Đại học Tài chính - Marketing Huế, đặt ra. Theo ông, dư địa của nông nghiệp Quảng Trị không chỉ nằm ở diện tích hay sản lượng, mà ở khả năng biến lợi thế sẵn có thành những chuỗi giá trị xanh, có thương hiệu và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Ông Nguyễn Đăng Vương, Giám đốc HTX Nông nghiệp sạch Tây Sơn (Quảng Trị) cho biết: Chúng tôi chủ động về con giống, nguyên liệu và thức ăn cho vật nuôi. Các loại thức ăn được trực tiếp sản xuất từ nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, qua đó kiểm soát tốt hơn chất lượng đầu vào. Với đầu ra, HTX chủ động đưa sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các khâu trung gian. Sản phẩm được phân phối thông qua các điểm bán trực tiếp và các kênh bán hàng trực tuyến, mạng xã hội như Facebook, Zalo, TikTok.
Thực tế cho thấy Quảng Trị đã có nền tảng nhất định. Toàn tỉnh hiện có gần 1.500 ha cây trồng được chứng nhận hữu cơ, hơn 20.700 ha sản xuất theo chuỗi liên kết, trên 417 cơ sở ứng dụng công nghệ cao và hơn 22.000 ha lúa ứng dụng thiết bị bay không người lái trong sản xuất. Gần 10.000 ha lúa áp dụng quy trình tưới khô xen ướt, giúp tiết kiệm 20-30% lượng nước tưới và giảm 40-60% phát thải khí mê-tan.
Những con số này cho thấy chuyển đổi xanh đã vượt ra ngoài phạm vi một số mô hình riêng lẻ. Tuy nhiên, để tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn, các mắt xích từ vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn, chế biến, logistics đến thị trường cần được kết nối chặt chẽ hơn.
Thành bại tại doanh nghiệp
Trong phương thức sản xuất truyền thống, doanh nghiệp thường tham gia ở khâu cuối cùng, thu mua sản phẩm sau khi nông dân đã hoàn tất quá trình sản xuất. Mô hình này dễ dẫn tới tình trạng sản xuất theo khả năng thay vì theo nhu cầu thị trường.

Chuỗi giá trị xanh đòi hỏi cách làm khác. Doanh nghiệp cần tham gia từ sớm, cùng xác định thị trường, tiêu chuẩn sản phẩm, quy mô vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và phương án chế biến.
Theo TS Trần Tự Lực, doanh nghiệp được đặt ở vị trí hạt nhân thị trường, vừa tham gia chế biến, xây dựng tiêu chuẩn vừa bảo đảm đầu ra; hợp tác xã quản lý vùng nguyên liệu; nông dân tổ chức sản xuất xanh, hữu cơ; Nhà nước tạo thể chế và hạ tầng; các khâu logistics, chế biến và tài chính hoàn thiện chuỗi.
Khi doanh nghiệp thực sự tham gia tổ chức chuỗi, nông dân có thể chuyển từ sản xuất manh mún sang sản xuất theo tiêu chuẩn; hợp tác xã từ vai trò trung gian thu gom có thể trở thành đơn vị tổ chức sản xuất; còn doanh nghiệp có được nguồn nguyên liệu ổn định, đồng nhất và phù hợp với yêu cầu của thị trường.
Mô hình hợp tác giữa Quảng Trị với Tập đoàn Quế Lâm là một ví dụ đang được địa phương triển khai. Đến tháng 9/2026, 29/78 xã, phường đã ký kết biên bản hợp tác với doanh nghiệp này; 9 địa phương đã triển khai các nội dung hợp tác với 65 hộ. Các mô hình tập trung vào chăn nuôi an toàn sinh học, trồng trọt hữu cơ và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp.
Một cách tiếp cận khác đang được triển khai tại Quảng Trị là mô hình liên kết sản xuất gạo hữu cơ của Sepon Group. Thay vì chờ nông dân sản xuất rồi mới tìm đầu ra, doanh nghiệp tham gia từ khâu xây dựng vùng nguyên liệu, hướng dẫn quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng đến thu mua và phát triển sản phẩm.
Một thách thức lớn của chuyển đổi xanh là chi phí ban đầu. Doanh nghiệp phải đầu tư công nghệ, hệ thống truy xuất, tiêu chuẩn chất lượng, chế biến và logistics. Người sản xuất cũng phải thay đổi tập quán, quy trình và đầu tư cho sản xuất đạt chuẩn.
Bởi vậy, thước đo cuối cùng của một chuỗi giá trị xanh không chỉ là giảm phát thải hay giảm sử dụng đầu vào hóa học, mà còn phải là khả năng tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn, tiếp cận thị trường tốt hơn và mang lại thu nhập ổn định cho các chủ thể.